- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/Áp dụng: Khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2019 (V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Kiều Thu
2. Bà Lưu Thị Thôi
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà –Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Kiểm sát viên.
Vào lúc 09 giờ 35 phút, ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 542/2019/TLST-HNGĐ ngày 28/8/2019 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 390/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2019, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích A – sinh năm 1996
Trú tại: khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
* Bị đơn: Ông Ninh Minh D – sinh năm 1992
Trú tại: khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà A, vắng mặt ông D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Bích A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông D tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau vào năm 2016. Có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận vào ngày 22/3/2017.
Trong quá trình chung sống, bà làm công nhân hải sản, ông D bơi thúng chở cá cơm. Ông D đi làm nhưng không lo cho gia đình nên cuộc sống có nhiều khó khăn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, gây gổ xúc phạm nhau, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bà và ông D đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2019 đến nay. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể kéo dài cuộc sống chung nên yêu cầu được ly hôn với ông D.
Về con chung: Bà và ông D có 01 con Ninh Minh E, sinh ngày 30/4/2017. Hiện nay bà đang nuôi con nên yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con. Tại phiên tòa bà yêu cầu ông D cấp dưỡng cho con 1.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Ninh Minh D đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng nhưng ông không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp và hòa giải, không tham gia phiên tòa.
Vụ án không tiến hành hòa giải được.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự (nguyên đơn) đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Ninh Minh D cư trú tại khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố PT.
Ông D không tham gia phiên tòa. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông D.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà A Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông D là hợp pháp, ông bà đã được Uỷ ban nhân dân phường C, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71/2017, ngày 22/3/2017.
Bà A cho rằng, trong quá trình chung sống bà và ông D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên hai người không còn sống chung từ tháng 06 năm 2019 đến nay, mạnh ai nấy sống. Tòa án có xác minh tại chính quyền địa phương nơi bà A và ông D cư trú cho thấy: Bà A và ông D thường xảy ra mâu thuẫn, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, và hiện không còn chung sống với nhau được khoảng gần 05 tháng nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D đến Tòa hòa giải nhưng ông D không đến, chứng tỏ ông D bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà A, không còn thiết tha xây dựng, vun vén hạnh phúc gia đình. Như vậy, đủ cơ sở khẳng định quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Về con chung: Bà A và ông D có 01 con Ninh Minh E, sinh ngày 30/4/2017. Cháu E dưới 36 tháng tuổi, từ trước đến nay bà A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi” nên giao cho bà A được quyền nuôi con.
Về cấp dưỡng: Khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Ông D không trực tiếp nuôi con nên buộc ông phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà A hàng tháng là 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông D phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1/Áp dụng: Khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
2/ Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích A, bà A được ly hôn ông Ninh Minh D.
Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Bích A được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ninh Minh E (giới tính nam), sinh ngày 30/4/2017. Ông Ninh Minh D có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng cho bà A 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu E tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn, bà A và ông D vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật(đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án(đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Ông Ninh Minh D phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con. Bà Nguyễn Thị Bích A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0027968 ngày 28/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố PT. Bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bà A có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án(29/11/2019). Ông D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Lê Thị Kiều Thu Lưu Thị Thôi | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |