vanban.org

Bản án 101/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lâm Kiều M được ly hôn với anh Đỗ Hoài N. [2] Về con chung: Giao cháu Đỗ Trà M1, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2008 cho anh Đỗ Hoài N tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Chị Lâm Kiều M không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2019/HNGĐ - ST
Ngày 25 - 6 - 2019
V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Bà Lữ Phúc Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm - Thư ký Tòa án

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2019/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Kiều M – sinh năm 1989 (Có mặt)

Cư trú tại: ấp LX, xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Đỗ Hoài N – sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Cư trú tại: ấp BK, xã LTT, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 3 năm 2019 và tại phiên tòa chị Lâm Kiều M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M và anh Đỗ Hoài N kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng được một thời gian, đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cải nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị M yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Hoài N.

Về con chung: Chị M xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có một người con tên Đỗ Trà M1, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2008. Hiện con đang sống chung với anh Đỗ Hoài N. Khi ly hôn Chị M yêu cầu giao con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Đỗ Hoài N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh N hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Kiều M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

[1] Tranh chấp giữa chị Lâm Kiều M và anh Đỗ Hoài N là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Đỗ Hoài N có địa chỉ tại ấp BK, xã LTT, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:

Về Hôn nhân: Chị Lâm Kiều M và anh Đỗ Hoài N kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 thì chị Lâm Kiều M có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của Chị M đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, anh N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh N hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh N.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa Chị M và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải nhau, từ đó vợ chồng anh, chị sống ly thân với nhau từ năm 2012 cho đến nay là một khoảng thời gian khá dài, nhưng anh N và Chị M không tự hàn gắn được tình cảm gia đình. Hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án anh N không có ý kiến gì đối với việc Chị M xin ly hôn đối với anh. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của Chị M và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị Lâm Kiều M được ly hôn với anh Đỗ Hoài N.

Về con chung: Chị M xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có một người con tên Đỗ Trà M1, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2008. Hiện con đang sống chung với anh N. Khi ly hôn Chị M yêu cầu giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy kể từ khi thụ lý vụ án. Mặc dù anh N đã được thông báo về việc thụ lý vụ án và được triệu tập để tham gia tố tụng tại Tòa án hợp lệ, nhưng anh N không có ý kiến gì về việc Chị M yêu cầu ly hôn và yêu cầu giao con chung của vợ chồng cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại cháu Trà My hiện tại đã 11 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì khi quyết định giao con cho cha, mẹ nuôi con thì phải xem xét nguyện vọng của con. Tuy nhiên tại vụ án này anh N đã không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên Tòa án không thể làm việc được với cháu Trà My để xem xét nguyện vọng của cháu muốn được ở với ai? hơn nữa hiện tại cháu Trà My đang sống chung với anh N đã ổn định về mặt tinh thần lẫn vật chất. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Kiều M về việc giao cháu Đỗ Trà M1, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2008 cho anh Đỗ Hoài N tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Chị Lâm Kiều M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nếu sau này Chị M và anh N có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì Chị M và anh N đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Lâm Kiều M phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lâm Kiều M được ly hôn với anh Đỗ Hoài N.

[2] Về con chung: Giao cháu Đỗ Trà M1, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2008 cho anh Đỗ Hoài N tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Chị Lâm Kiều M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lâm Kiều M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005215 ngày 13 tháng 3 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Chị Lâm Kiều M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Hoài N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ