vanban.org

Bản án 101/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 04/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
TỈNH!BÌNH!THUẬN
!!!!!!!!!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 101/2019/DS-PT
Ngày: 04-11-2019
V/v Tranh chấp quyền sử
dụng đất

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!BÌNH!THUẬN!!

-!Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường và bà Đoàn Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái - Thư ký Tòa án của Tòa án

nhân dân tỉnh Bình Thuận

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Phạm Thị

Thanh Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 04 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2019/TLPT-DS ngày

23 tháng 8 năm 2019, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DSST ngày 17 tháng 5 năm 2019

của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 213/2019/QĐPT

ngày 15/10/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:!Ông!Nguyễn!Văn!Ch,!sinh năm 1952; địa chỉ thôn Hiệp

Đ 1, xã CC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn:!Ông!Thông!Minh!Dũng,!sinh năm 1958; địa chỉ thôn TT2, xã

PP, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Qua Thị Kiêm Trinh, sinh năm 1961; đã chết.

2.Thông Qua Thị Mây, sinh năm 1985;

3.Thông Qua Thị Nhâm, sinh năm 1982;

4.Thông Qua Thị Mây Nhiều, sinh năm 1988;

5.Thông Qua Thị Mây Chiều, sinh năm 1990;

6.Thông Qua Mây Nhiều Hơn, sinh năm 1994;

Cùng địa chỉ: thôn TT 2, xã PP, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.

1

- Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

bà Thông Qua Thị Nh, bà Thông Qua Thị Mây Nh, bà Thông Qua Thị Mây Ch và ông Thông Qua Mây Nhiều H là cho ông Thông Minh D.

- Người làm chứng:

1.!Nguyễn H,!sinh năm 1945; địa chỉ thôn Hiệp Đức 1, xã Chí Công,

huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận;

2. Đặng Công Đ, sinh năm 1940; địa chỉ thôn Nha Mé, xã Phong Phú,

huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận;

3. Trương L, sinh năm 1943; địa chỉ thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công,

huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận;

4. Đặng Thanh H, sinh năm 1949; địa chỉ thôn 1, xã Phong Phú, huyện

Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận;

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ch.

Có mặt: ông Nguyễn Văn Ch, ông Thông Minh Dũng, bà Thông Qua

Thị Mây; ông Đặng Công Đ, ông Trương L, ông Đặng Thanh H.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

- Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2018 và trong quá trình giải quyết vụ

án nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ch trình bày:

Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất từ thời pháp thuộc ông bà nội

ông khai hoang đất có diện tích 24.132m2, sử dụng sau đó giao lại cho cha ông là ông Nguyễn Mẫn (Sinh 1902, chết 1978).

Năm 1976 cha ông lập tờ ủy quyền giao toàn bộ ruộng đất lại cho ông,

theo tờ ủy quyền lập ngày 09/6/1976, sau đó năm nào ông không nhớ rõ, ông lập giấy ủy quyền giao toàn bộ ruộng đất lại cho anh rễ ông là ông Nguyễn H.

Năm 1985 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công thành lập, ông

Hùng đưa toàn bộ ruộng đất vào Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công (Giấy ủy quyền của ông lập, ông Hùng đã nộp cho Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công, hiện nay ông không lưu giữ); ông Hùng trở thành hộ xã viên của Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công; Tập đoàn đã giao toàn bộ ruộng đất lại cho ông Hùng canh tác. Trong khi quản lý sử dụng, ông Hùng đã chỉ dẫn đo vẽ sơ đồ đất với 08 lô tổng diện tích là 21.132m2, theo bản đồ ruộng ngọt đã được Chủ tịch UBND xã Chí Công chứng thực tháng 12/1978, còn lại 02 thửa ruộng gò có diện tích 2.969m2 (Phần đất này là 02 thửa ruộng gò, kế sách của gia đình ông là lấy ngắn nuôi dài nên để làm rẫy; tại thời điểm này chủ trương Nhà nước chỉ đo ruộng, do là đất rẫy nên nhà nước không đo vẽ).

Năm 1987 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công giải thể, ông Hùng

đã giao lại cho ông toàn bộ ruộng đất, như hiện trạng ban đầu trong đó có 02 thửa ruộng gò có tổng diện tích là 24.132m2.

2

Từ tháng 3/2011 ông Thông Minh Dũng đã lấn chiếm trên đất (02 thửa

ruộng gò) của ông diện tích 2.969m2 để làm ruộng. Nay ông yêu cầu ông

Dũng phải giao trả lại cho ông đúng 2.969m2 đất mà ông Dũng lấn chiếm

của ông.

- Bị đơn ông Thông Minh Dũng trình bày:

Năm 2004 Nhà nước có chủ trương giao đất nông nghiệp cho đồng bào

dân tộc chăm ở xã Phong Phú, theo Nghị quyết số 04-NQ/TU của tỉnh ủy

Bình Thuận ; vào năm 2005 hộ gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện

giao đất sản xuất tại lô số 41 khu vực VII, thuộc xã Phong Phú, với diện tích

là 7.000m2, theo biên bản tạm giao đất thực địa của Phòng Tài nguyên - Môi

trường huyện ngày 08/3/2005.

Tình trạng đất khi nhận là đất hoang hóa, trên đất có nhiều cây bụi,

không bằng phẳng, không canh tác được, không phải là đất thuộc đã có chủ

trước. Sau đó, gia đình ông mới thuê xe san ủi cải tạo mặt bằng đất. Lúc đầu,

do không có nguồn nước tưới tiêu, nên ông chỉ trồng cây dầu lai. Đến năm

2010 thì Nhà nước mới làm kênh dẫn nước về tưới tiêu, có nguồn nước ông

mới đắp bờ cải tạo thành 05 thửa ruộng trồng lúa từ năm 2011 cho đến nay.

Nay không biết lý do gì mà ông Chút tranh chấp đất với ông.

Nay ông xác định, toàn bộ diện tích 7.000m2 đất mà UBND huyện giao

cho hộ gia đình ông sử dụng theo chủ trương Nghị quyết 04 của tỉnh ủy Bình

Thuận là hợp pháp. Ông không chấp nhận yêu cầu tranh chấp đất của ông

Chút.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thông Qua Thị Mây:

Thống nhất với trình bày của ông Dũng.

Ngày 17/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã đưa vụ án ra

xét xử, tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DSST, quyết định như sau:!

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1

Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 24 Điều 3; Khoản 5 Điều 26; Điều

27; Khoản 5 Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Điểm đ Khoản 1

Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016,

về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và

lệ phí Tòa án của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng

đất” của ông Nguyễn Văn Ch đối với ông Thông Minh Dũng, cụ thể là ông

Chút yêu cầu ông Dũng phải giao trả cho ông diện tích 2.969m2 đất, vị trí

nằm trong lô số 41, khu VII, xã Phong Phú.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tiền án phí, thông báo quyền kháng

cáo.

Ngày 30/5/2019 ông Nguyễn Văn Ch kháng cáo toàn bộ bản án sơ

thẩm: Yêu cầu ông Dũng phải giao trả cho ông diện tích 2.969m2 đất, vị trí

nằm trong lô số 41, khu VII, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

3

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu việc kiểm

sát tuân theo pháp luật trong vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật; yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ch là không có căn cứ pháp lý nên đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm bác yêu cầu kháng cáo của ông Chút giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu

kháng cáo, ông không đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên vì cho rằng phần diện tích 2.969m2 đất, vị trí nằm trong lô số 41, khu VII, xã Phong Phú đã được cấp cho Thông Minh Dũng theo Nghị quyết số 04-NQ/TU của tỉnh ủy Bình Thuận có nguồn gốc đất của gia đình cha mẹ ông nên ông yêu cầu gia đình ông Dũng phải trả lại đất cho ông. Xét kháng cáo, hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

[1] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn

Văn Ch đều cho rằng: Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất của ông bà nội ông khai hoang đất từ thời pháp thuộc, có diện tích đất 24.132m2, sử dụng sau đó giao lại cho cha ông là ông Nguyễn Mẫn (chết 1978) đến năm 1976 cha ông lập tờ ủy quyền lập ngày 09/6/1976 giao toàn bộ ruộng đất lại cho ông. Ông lập giấy ủy quyền giao toàn bộ ruộng đất lại cho anh rễ ông là ông Nguyễn H (năm nào ông không nhờ rõ). Năm 1985 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công thành lập, ông Hùng đưa toàn bộ ruộng đất vào Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công, ông Hùng trở thành hộ xã viên của Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công, Tập đoàn đã giao toàn bộ ruộng đất lại cho ông Hùng canh tác, còn lại 02 thửa ruộng gò có diện tích 2.969m2 (phần đất này là 02 thửa ruộng gò, kế sách của gia đình ông là lấy ngắn nuôi dài nên để làm rẫy, tại thời điểm này chủ trương Nhà nước chỉ đo ruộng, do là đất rẫy nên nhà nước không đo vẽ). Năm 1987 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công giải thể, ông Hùng đã giao lại cho ông toàn bộ ruộng đất, như hiện trạng ban đầu trong đó có 02 thửa ruộng gò có tổng diện tích là 24.132m2. Đến tháng 3/2011 ông Thông Minh Dũng đã lấn chiếm trên đất (02 thửa ruộng gò) của ông diện tích 2.969m2 để làm ruộng.

Việc ông Nguyễn Minh Chút khẳng định diện tích 2.969m2 đất của

ông canh tác sử dụng liên tục không có tài liệu chứng cứ chứng minh, không phù hợp với nội dung cung cấp thông tin, chứng cứ của cơ quan hành chính quản lý đất đai tại địa phương về nguồn gốc đất tại công văn số 760/UBND-NC ngày 03/4/2019 của UBND huyện Tuy Phong thể hiện: Năm 1985 ông Hùng anh rễ ông Chút đưa toàn bộ diện tích 21.132m2 gồm 08 thửa đất vào Tập đoàn sản xuất (không có phần diện tích là 2.969m2). Năm 2004, khi khảo sát đo đạc Bản đồ cấp đất cho đồng bào Chăm theo Nghị Quyết 04 của Tỉnh ủy, thửa đất này không thuộc quy chủ cho ai mà là đất công do nhà nước quản lý. Việc ông Chút cho rằng UBND huyện đã lấy 2.969m2 đất của

4

ông giao cho hộ ông Dũng mà không được sự đồng ý của ông là không có

cơ sở pháp lý. Bởi vì, thửa đất trên gia đình ông Chút không đăng ký kê khai

nơi địa phương quản lý đất đai và cũng không có quá trình sản xuất liên tục.

[2] Theo Nghị quyết số 04-NQ/TU của tỉnh ủy Bình Thuận, vào năm

2004 Nhà nước có chủ trương giao đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc

chăm ở xã Phong Phú, huyện Tuy Phong. Trong năm 2005 hộ gia đình ông

Thông Minh Dũng được UBND huyện Tuy Phong giao đất sản xuất tại lô số

41 khu vực VII, thuộc xã Phong Phú, với diện tích là 7.000m2 và tại biên

bản tạm giao đất thực địa của phòng Tài nguyên – Môi trường huyện ngày

08/3/2005 thì ông Thông Minh Dũng được nhận đất với diện tích là 7.000m2

có vị trí tứ cận của thửa đất được giao.

[3] Phần diện tích 2.969m2 đất mà ông Nguyễn Văn Ch canh tác đã

được giao cho ông Thông Minh Dũng vào ngày 08/3/2005 theo biên bản tạm

giao thực địa. Ông Dũng tác động trên đất, sang ủi canh tác trồng cây ông

Chút không có ý kiến. Đến năm 2010 Nhà nước làm kênh dẫn nước về tưới

tiêu, có nguồn nước ông Dũng đắp bờ cải tạo thành 05 thửa ruộng trồng lúa

từ năm 2011 cho đến nay thì ông Chút tranh chấp.

Tại Tòa sơ thẩm và phúc thẩm ông Nguyễn Văn Ch xác định khi còn

là Tập đoàn sản xuất nông nghiệp quản lý, ông Hùng (anh rễ ông Chút) có

làm ruộng tại đây và có thấy ông Hùng có trồng hoa màu trên phần đất gò,

nhưng không biết rõ ruộng đất ông Hùng có tổng diện tích là bao nhiêu, gồm

bao nhiêu thửa. Sau năm 1987 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp Chí Công giải

thể, các ông không đến khu vực này nữa, không xác định được vị trí thửa đất

gò mà ông Hùng đã trồng hoa màu trước đây có nằm trong đất ruộng của hộ

ông Dũng hiện đang canh tác hay không.

Hơn nữa, phần diện tích đất của ông Dũng đang canh tác không nằm

trong giấy chứng nhận quyền sử dụng được Ủy ban nhân dân huyện Tuy

Phong cấp cho gia đình ông.

[4] Xét thấy, về nguồn gốc của gia đình ông Nguyễn Văn Ch, sau khi

ông Hùng (anh rể) đưa toàn bộ diện tích đất vào tập đoàn sản xuất Chí Công,

đến năm 1995 tập đoàn sản xuất Chí Công giải thể ông nhận lại đất và đã

đăng ký kê khai sử dụng, được Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phong cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó không có phần đất diện tích

2.969m2. Mặc dù ông cho rằng ông vẫn đang canh tác, sử dụng đất liên tục

trồng mè, đậu nhưng ông không cung cấp được tài liệu kê khai đăng ký đối

với phần diện tích đất trên. Ngoài ra ông Chút còn cho rằng ông đã có đơn

khiếu nại tranh chấp với ông Dũng từ năm 2011 nhưng không được cơ quan

chính quyền giải quyết. Việc khai nại trên ông Dũng không có tài liệu chứng

cứ cung cấp.

Các chứng cứ do bị đơn Thông Minh Dũng cung cấp, có cơ sở pháp lý

chứng minh hộ ông Dũng được Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phong giao

diện tích 7.000m2 đất theo chủ trương Nghị Quyết số 04 tỉnh ủy Bình Thuận

vào năm 2005 và ông đã sử dụng ổn định, cải tạo thành ruộng trồng lúa là

hợp pháp. Việc ông Nguyễn Văn Ch cho rằng ông Thông Minh Dũng là lấn

5

chiếm đất của gia đình nhưng thửa đất trên gia đình nhưng ông Chút không đăng ký kê khai đất đai tại địa phương và cũng không chứng minh được có quá trình sản xuất liên tục.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tài liệu chứng cứ và tuyên xử bác đơn

khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch về yêu cầu ông Dũng phải giao trả cho ông diện tích 2.969m2 đất, vị trí nằm trong lô số 41, khu VII, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong có căn cứ.

Ông Nguyễn Văn Ch kháng cáo nhưng không chứng minh được quá

trình sử dụng đất có kê khai đăng ký của ông nên hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn Ch

phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do ông Chút là người cao tuổi nên ông được miễn án phí theo quy định.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,kháng nghị và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ch giữ nguyên bản

án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DSST ngày 17 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong.

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm c khoản

1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 24 Điều 3; Khoản 5 Điều 26; Điều 27; Khoản 5 Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng

đất” của ông Nguyễn Văn Ch đối với ông Thông Minh Dũng, cụ thể là ông Chút yêu cầu ông Dũng phải giao trả cho ông diện tích 2.969m2 đất, vị trí nằm trong lô số 41, khu VII, xã Phong Phú.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Ch được miễn nộp án phí dân sự phúc

thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

6

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

(04/11/2019).

!!Nơi nhận:

Cỡ chữ