vanban.org

Bản án 101/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn H và Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lò Văn H 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/6/2018. Xử phạt: Quàng Văn T 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN H VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn H và Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2018/HS-ST
Ngày 11 tháng 10 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Hoạt và bà Trần Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Tưởng Phi Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Lò Văn H, sinh năm 1983, tại Sơn La.

Nơi cư trú: Bản H N B, xã T L, huyện T C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Dvà bà Lò Văn Doa; Bị cáo có vợ là Lò Thị T và 01 con;

Tiền sự: không;

Nhân thân:

+ Ngày 13/01/2009 Tòa án nhân dân huyện T C, tỉnh Sơn La xử phạt 08 tháng 17 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 02/3/2010 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 28 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/11/2011, đã chấp hành xong án phí.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 20 tháng 6 năm 2018 đến nay. Có mặt.

2. Quàng Văn T , sinh năm 1988, tại Sơn La.

Nơi cư trú: Bản H N B, xã T L, huyện T C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12 ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: T ong và bà Quàng Thị P ; Bị cáo chưa có vợ con;.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

+ Ngày 22/01/2009 Tòa án nhân dân huyện T C, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

+ Ngày 24/02/2014 Tòa án nhân dân huyện T C, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2016, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 20 tháng 6 năm 2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 20/6/2018, tại đường dân sinh thuộc bản Ch Đ 1, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác Công an huyện VH kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lò Văn H và Quàng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trên tay trái H là 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, H và T khai nhận đó là Heroine.

Lò Văn H và Quàng Văn T khai nhận: Do cùng nghiện ma túy và đi làm thuê ở xã Đ S, huyện M C, khoảng 08 giờ 00 ngày 20/6/2018 H rủ T đi tìm mua ma túy về sử dụng. H và T thuê xe ôm từ M Cđến khu vực bản Ch Đ 1, xã VH, huyện VH. Sau đó, cả hai xuống xe, đi bộ vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên. H và T mỗi người góp 50.000 đồng, rồi H cầm tiền hỏi mua được 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. H cầm gói ma túy trên tay trái rồi cùng T quay về thì bị phát hiện bắt giữ. Cơ quan điều tra Công an huyện VH đã lập biên bản, niêm phong vật chứng; dẫn giải H và T về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VH để điều tra, xử lý.

Cùng ngày, Tại Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh gói bột trắng thu giữ của Lò Văn H và Quàng Văn T xác định được có khối lượng 0,34 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu HT.

Kết luận giám định số 788/KLMT ngày 25/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu HT là ma túy; Loại Heroine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,34 gam.Loại chất Heroine”

Cáo trạng số 71/CT – VKS ngày 12/9/2018 của VKSND huyện VH, truy tố Lò Văn H và Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Lò Văn H và Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

* Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, 58 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Lò Văn H từ 12 đến 24 tháng tù, xử phạt: Quàng Văn T từ 12 đến 24 tháng tù.

* Không phạt bổ sung đối với các bị cáo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,29 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Quàng Văn T .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 20/6/2018 Lò Văn H và Quàng Văn T đã cùng nhau góp mỗi người 50.000 đồng, tổng cộng là 100.000 đồng đi mua được 0,34 gam Heroine mục về sử dụng. Trên đường quay về thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi mua và tàng trữ trái phép 0,34 gam Heroine mục đích sử dụng của Lò Văn H và Quàng Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015. HĐXX xét thấy, việc khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi và vai trò của các bị cáo: Các bị cáo là đồng phạm trong vụ án, phạm tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự địa phương. Lò Văn H là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp giao dịch mua ma túy. Quàng Văn T là người tiếp nhận ý chí, góp tiền và tích cực cùng đi tìm mua ma túy. Lò Văn H và Quàng Văn T đều đã 02 lần bị xử phạt tù trong đó có tội phạm ma túy, nhưng không biết ăn năn hối cải. Do vậT Cần xử phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nên đều được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS

Về phạt bổ sung: Xét thấT Các bị cáo không có tài sản có giá trị, nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,29 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Quàng Văn T là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Về nguồn gốc chất ma túy: Các bị cáo khai đã cùng nhau vào nhà của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án này.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn H và Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, 58 BLHS 2015.

- Xử phạt: Lò Văn H 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/6/2018.

- Xử phạt: Quàng Văn T 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giam 20/6/2018.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng các điểm c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,29 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lò Văn H; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Quàng Văn T .

Toàn bộ Vật chứng theo biên bản giao vật chứng số: 01/BBVC ngày 02/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAT

- VKS tỉnh, huyện

- CA huyện, CQ THAHS

- Sơ TP

- Trại Giam

- Bị cáo

- Lưu HS.

Nguyễn Đăng Quang

- Lưu VP Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – chủ tọa

Hội thẩm nhân dân Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Đăng Quang

Mùi Văn Hoạt

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngàT Của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thaT Cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ