- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2018/HS-ST Ngày: 26/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo và bà Trần Thị Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Doanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 92/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo:
Trần Ngọc L, sinh ngày 25/02/1977 tại Tuyên Quang
Nơi cư trú: Xóm C, xã Xuân V, huyện Y, tỉnh T; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Trần Đức M, sinh năm 1938 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1940; anh chị em ruột: Có 07 anh chị em, bị cáo là thứ 5; vợ: Đào Thị H, sinh năm 1984; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011; nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 16/6/2018, Trần Ngọc L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22B2 – 232.32 xe mô tô thuộc sở hữu của Đào Thị H (vợ L) đi đến khu vực thuộc ngã ba thuộc huyện Đ, tỉnh Thái N gặp một người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua được 01 gói Heroine gói bằng giấy nilon màu đen, cuốn ngoài bằng giấy cuốn nịt chun màu vàng với giá 4.000.000đ. L cất giấu gói Heroine trong người đi về đến khu vực đèo K thuộc tỉnh T vào chỗ vắng người lấy một ít ra để sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số Heroine còn lại L cất giấu vào trong người và điều khiển xe mô tô đi đến khu vực D, thuộc tổ 17, phường N, thành phố T, tỉnh T thì bị Tổ công tác Công an thành phố Tuyên Quang bắt quả tang hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày. L đã tự giác giao nộp.
Tại kết luận giám định số 295/GĐKTHS ngày 18/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Trần Ngọc L là chất ma túy, loại heroine (hêrôin), khối lượng 4,738g (bốn phẩy bẩy ba tám gam).
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Trần Ngọc L, kết quả: (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thế.
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKS-TP ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc L từ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng đến 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định số kết luận giám định số 295/GĐKTHS ngày 18/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo Trần Ngọc L nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản xét nghiệm tìm chất ma tuý; tang vật thu giữ; kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 16/6/2018, tại tổ 17 phường N, thành phố T, tỉnh T. Trần Ngọc L trú tại xóm C, xã X, huyện Y, tỉnh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 4.738g (bốn phẩy bảy ba tám gam) Heroine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ 4.738g (bốn phẩy bảy ba tám gam) Heroine của bị cáo mục đích để sử dụng được thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Trần Đức M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cần thiết phải xử bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng Heroine mà bị cáo tàng trữ cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Trần Ngọc L, Công an thành phố Tuyên Quang đã ra Quyết đi ̣nh xử pha ̣t hành chinh số
́ 221/QĐ-XPVPHC ngày 27/6/2018 hình thưc phạt tiền 500.000đ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với người đàn ông theo bị cáo khai là người đã bán Heroine cho bị cáo ở khu vực ngã ba huyện Đ, tỉnh T nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chị Đào Thị H, là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 22B1 – 232.32, do không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi lại khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý. Công an thành phố Tuyên Quang đã trả lại tài sản trên cho chị Đào Thị H, chị H không có đề nghị gì về tài sản đã nhận lại.
Về vật chứng: 4.718g (bốn phẩy bảy một tám gam) Heroine (đối tượng giám định hoàn lại) được niêm phong trong 01 phong bì giấy còn nguyên vẹn, trên các mép dán có chữ ký của bị cáo và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang không có giá trị sử dụng nên tiêu huỷ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc L 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/6/2018.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 4.718g (bốn phẩy bảy một tám gam) Heroine được niêm phong trong 01 phong bì giấy còn nguyên vẹn, trên các mép dán có chữ ký của bị cáo và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang (là đối tượng giám định hoàn lại).
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 11/9/2018
Về án phí: Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Ngọc L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh TQ; - VKSND thành phố (2 bản); - Công an thành phố TQ; - Chi cục THADS thành phố TQ; - Sở Tư pháp TQ; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng ; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Quỳnh |