vanban.org

Bản án 101/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 07/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,35 gam Heroin và 0,33 gam Methamphetamine, 10 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu vàng, 03 mảnh nilon màu hồng, 01 bơm hơi xe. Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ ngày 05/10/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn Xiên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH
PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
––––––––––––––
Bản án số: 101/2018/HS-ST
Ngày 07/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thƣơng Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ly A Hợi

2. Bà Lò Thị Dỉnh

- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hợi - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2018/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2018/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: TÒNG VĂN X ; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 11/8/1972 tại Điện Biên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số nhà 26, tổ dân phố 2, phường M Th, thành phố Đ B Ph, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Lái xe ôm; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tòng Văn U, (đã chết) và con bà: Tòng Thị L, (đã chết); Vợ: Quàng Thị X, sinh 1976, có 02 con, lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 27/6/2018 đến ngày 06/7/2018, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Quàng Văn Ph, sinh năm 1971; Trú tại: Tổ dân phố 4, phường M Th, thành phố Đ B Ph, tỉnh Đ Biên (vắng mặt có lý do).

*. Người làm chứng: Anh Trần Ích Th, sinh năm 1988; Trú tại: Tổ dân phố 25, phường T Th, thành phố Đ B Ph, tỉnh Đ (vắng không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 12 giờ ngày 27/6/2018, tại khu vực cổng Khách sạn Nậm Rốm thuộc tổ 12, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, Tòng Văn X có hành vi ngậm trong miệng 01 gói nilon màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng và 01 gói nilon bên trong có 04 viên nén màu hồng; giấu 01 gói nilon màu trắng bên trong có các cục nhỏ chất bột thể rắn màu trắng đục vào trong chụp nhựa màu đen ở đầu chiếc bơm xe màu xanh đen, đường kính khoảng 3cm, dài khoảng 30cm để trong cốp xe máy nhãn hiệu HONDA Wave biển kiểm soát 27B1-060.51 mượn của anh Quàng Văn Ph, thì bị tổ công tác Công an phường Mường Thanh, phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện. X nuốt 02 gói ngậm trong miệng, cơ quan điều tra thu giữ gói còn lại, lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/6/2018, cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ thu giữ 02 gói vật chứng X đã nuốt, thải ra ngoài qua đường tiêu hóa. X khai nhận cả 03 gói vật chứng bị thu giữ là Heroin và Hồng phiến, X cất giấu với mục đích sử dụng.

Tòng Văn X khai nhận nguồn gốc toàn bộ số ma túy bị thu giữ, là vào khoảng 11 giờ ngày 27/6/2018, X điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B1-060.51 xuống bản Na Ngum, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên nhờ một người thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ mua hộ với số tiền 350.000 đồng và trả cho người này 20.000 đồng tiền công. X giấu số ma túy đó vào trong người đi lên thành phố Điện Biên Phủ thì bị phát hiện bắt giữ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi cất giấu Heroine, Methamphetamine để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Các vấn đề khác:

Tại Kết luận số 629, 630/GĐ-PC54 ngày 05/7/2018, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,5 gam, Heroine nằm trong danh mục chất ma túy, STT: 9, Danh mục IA, danh mục I Nghị định 73/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2018;

Mẫu viên nén ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của là 0,46 gam, Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy, STT: 323, Danh mục IIC, danh mục II Nghị định 73/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2018

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về Kết luận Giám định nêu trên.

Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 73/CT- VKS-TPĐBP ngày 04/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo TÒNG VĂN Xvề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ Tòng văn X từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,35 gam Heroin và 0,33 gam Methamphetamine, 10 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu vàng, 03 mảnh nilon màu hồng, 01 bơm hơi xe.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố Điện Biên Phủ; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

2. Xét các hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Tòng Văn X, của người chứng kiến và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Hồi 12 giờ ngày 27/6/2018, tại khu vực cổng Khách sạn Nậm Rốm thuộc tổ 12, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, bị cáo tàng trữ 0,5 gam Heroine và 0,46 gam Methamphetamine, bị cáo cất giấu với mục đích sử dụng cho bản thân bị cáo. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i)… Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”

Hành vi trên của bị cáo Tòng văn X được chứng minh tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám đinh trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo Tòng Văn X là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo Tòng Văn X về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

3. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Tòng Văn X không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Nguyên nhân chính dẫn đến việc bị cáo phạm tội là do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.

4. Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện có nghề nghiệp nhưng không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị và bị cáo đi chấp hành án nên không có khả năng thi hành. Do vậy HĐXX không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5. Về vật chứng vụ án: 0,5 gam Heroin, sau khi gửi đi giám định hoàn lại 0,35 gam Heroin. 0,46 gam Methamphetamine, sau khi giám định hoàn lại 0,33 gam Methamphetamine, 10 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu vàng, 03 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc bơm hơi xe. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu trắng, kèm 02 sim; 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 101.000 đồng và 1 số giấy tờ đều mang tên Tòng Văn X. Các giấy tờ, tài sản này của X không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ đã trả lại tài sản cho chị Quàng Thị X (người được bị cáo ủy quyền nhận hộ) và trả lại chiếc xe máy cho anh Quàng Văn Ph, do anh Phong không biết X sử dụng xe vào việc phạm tội, anh Phong đã nhận được tài sản và xin xét xử vắn mặt. Xét việc trả tài sản và xe máy là có căn cứ do vậy HĐXX chấp nhận.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tòng Văn X 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27/6/2018.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,35 gam Heroin và 0,33 gam Methamphetamine, 10 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu vàng, 03 mảnh nilon màu hồng, 01 bơm hơi xe.

Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ ngày 05/10/2018.

- Chấp nhận các biên bản trao trả tài sản ngày 04/9/2018.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tòng Văn X phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 07/11/2018. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát NDTPĐBP;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIỆN TÒA

- Công an TPĐBP;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- UBND phường;

- Chi cục THADS TPĐBP;

- Toà án ND tỉnh Điện Biên;

- Sở Tư pháp;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Điên Biên;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Trần Thị Thƣơng Huyền

- Hồ sơ THA hình sự;

- Bị cáo;

- Lưu VP.

ơ HỘI THẨM NHÂN DÂN Héi ®ång xÐt xö HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý A Hợi

Trần Thị Thƣơng Huyền

Lò Thị Dỉnh

Cỡ chữ