- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Hoàng N phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Hoàng N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2018/HS-PT Ngày: 23-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Bình.
Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2018/HSPT ngày 15 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Đỗ Hoàng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 70/2018/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Hoàng N, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp XL, xã TT, huyện BC, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hoàng D, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; vợ tên Lê Thanh T, sinh năm 1989, con có 01 người sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Trong vụ án còn có người bị hại không có kháng cáo, kháng nghị. Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đỗ Hoàng N và anh Đặng Quốc T là bạn, làm công nhân cùng Công ty Huichin khu công nghiệp Phước Đông – Bời Lời. Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 21/3/2018, do bị cáo không có xe về dự đám tang của bà ngoại vợ tại ấp TV 2, xã TP, huyện GD nên bị cáo mượn anh T xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 70M3-0570 hẹn ngày sau trả lại, anh T đồng ý. Sau khi đi đám tang, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh T. Bị cáo điều khiển xe đến khu vực Cửa khẩu Mộc Bài thuộc huyện BC rồi đem sang Campuchia cầm cố được 9.000.000 đồng, đánh bạc thua hết. Sau đó, bị cáo nói lại sự việc cho anh T biết và hứa sẽ chuộc lại xe đem về trả nhưng không thực hiện nên anh T gửi đơn tố cáo đến Cơ quan công an sau đó bị cáo đã chuộc lại xe và trả cho anh T xong. Ngày 25/3/2018, anh T đã có đơn rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo.
Kết luận định giá tài sản số 24 ngày 29/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện GD kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 70M3-0570 có giá trị 9.300.000 đồng.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12 tháng 9 năm 2018 bị cáo N có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin được xem xét cho hoàn cảnh bị cáo hiện tại đã ly hôn và nuôi con nhỏ, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo thể hiện: Bị cáo Đỗ Hoàng N và bị hại T có quan hệ cùng làm công nhân Công ty Huichin khu công nghiệp Phước Đông – Bời Lời. Khoảng 18 giờ ngày 21/3/2018 bị cáo N mượn xe mô tô biển số 70M3 -0570 của bị hại T để đi công việc (đám tang) hẹn sáng hôm sau sẽ trả, tin tưởng bạn nên anh T cho bị cáo mượn xe, khi nhận được xe bị cáo đi công việc xong, nảy sinh ý định chiếm đoạt xe nên điều khiển xe sang Campuchia thế chấp 9.000.000 đồng lấy tiền đánh bạc thua hết, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại, bị cáo mượn xe sau đó bội tín đem thế chấp lấy tiền dùng vào việc đánh bạc, đến hẹn không trả xe và hứa hẹn nhiều lần không thực hiện nên bị hại T làm đơn tố cáo tại công an. Tại kết luận định giá tài sản số 24 ngày 29/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định giá trị xe mô tô là 9.300.000 đồng. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo nhận thức rõ việc lấy tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích, động cơ tư lợi cá nhân. Bản thân bị cáo và vợ mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn với gia đình bên vợ nên đã tiến hành thủ tục ly hôn vào tháng 4/2018 tại Tòa án nhân dân huyện BC, tỉnh Tây Ninh vì bị cáo nhiều lần sang Campuchia đánh bạc thua tiền phải mượn tiền của nhiều người bên vợ... và toàn bộ số tiền thế chấp xe mô tô bị cáo dùng vào việc vi phạm khác là đánh bạc và khi bị tố cáo đến công an làm việc thì mẹ ruột bị cáo là người đưa tiền chuộc xe về trả cho bị hại. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Không đủ điều kiện áp dung chế định án treo đối với bị cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Hoàng N.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sư phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1. TANDTC. tại Hà Nội; - VKSND. TTN; - TAND huyện GD; - Công an huyện GD; - Chi cục THADS huyện GD; - VKSND huyện GD; - Phòng PV27. CATN; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp TTN; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA. TATTN; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án THS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thanh Giang |