vanban.org

Bản án 101/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tiểu C.

Chị Trương Thị Tiểu C được ly hôn với anh Nguyễn Huỳnh T. [2] Về con chung: Anh Nguyễn Huỳnh T trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trương Thanh N, sinh ngày 04/6/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, chị Trương Thị Tiểu C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Tiểu C - Nguyễn Huỳnh T"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tiểu C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 101/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 02 - 11 - 2018.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Việt Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Lắm.

Ông Huỳnh Văn Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Chấm - Kiểm sát viên.

Ngày 02tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2018/TLST - HNGĐ, ngày 18/5/2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 21/9/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị Tiểu C, sinh năm 1997 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Anh Nguyễn Huỳnh T, sinh năm 1993 (vắng mặt không lý do).

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện Mỏ C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 17/5/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trương Thị Tiểu C trình bày: Chị và anh Nguyễn Huỳnh T kết hôn do quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/7/2015, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, ham chơi, không quan tâm đến vợ con, anh chị đã sống ly thân cách nay khoảng 06 tháng, thời gian ly thân gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không đạt kết quả. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Con chung Nguyễn Trương Thanh N, sinh ngày 04/6/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, khi ly hôn chị để anh T tiếp tục nuôi con, chị không cấp dưỡng nuôi con, nếu chị nuôi con thì yêu cầu anh T cấp dưỡng mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn anh Nguyễn Huỳnh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị C được ly hôn với anh T, về con chung anh T trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trương Thanh N, sinh ngày 04/6/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu, tài sản chung và nợ chung chị C trình bày không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn anh Nguyễn Huỳnh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T, Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị kết hôn trên cơ sở quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/7/2015, quá trình kết hôn tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn theo chị C trình bày thì vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì mâu thuẫn do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, ham chơi, không quan tâm đến vợ con, anh chị đã sống ly thân cách nay khoảng 06 tháng. Tại phiên tòa chị C cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh T. Đối với anh T trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh đến Tòa án để tham gia hòa giải quan hệ hôn nhân với chị C, mục đích để anh chị hàn gắn nhưng anh T không đến Tòa án để tham gia hòa giải, điều đó chứng tỏ anh có ý thức bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm với chị C, quan hệ hôn nhân giữa anh chị chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, anh chị không có giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà ngược lại để cho mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng hơn dẫn đến phải sống ly thân, thời gian ly thân anh chị cũng không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Do đó có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm vợ chồng chị C, anh T là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị C, anh T có một con chung tên Nguyễn Trương Thanh N, sinh ngày 04/6/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, khi ly hôn chị C yêu cầu để cho anh T tiếp tục nuôi con, chị không cấp dưỡng nuôi con, nếu chị C nuôi con thì yêu cầu anh T cấp dưỡng mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, đối với anh T không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu N sống chung với anh T nên có tình cảm thân thiết với cha hơn, đồng thời để bảo đảm ổn định cho cuộc sống của cháu nên cần để cho anh T tiếp tục nuôi con là phù hợp, do anh T không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị C.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C trình bày không có, đối với anh T trong suốt quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến hay yêu cầu gì về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định anh chị có tài sản chung và nợ chung hay không nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Chị Trương Thị Tiểu C phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của bà Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tiểu C.

Chị Trương Thị Tiểu C được ly hôn với anh Nguyễn Huỳnh T.

[2] Về con chung: Anh Nguyễn Huỳnh T trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trương Thanh N, sinh ngày 04/6/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, chị Trương Thị Tiểu C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ nộp án phí: Án phí ly hôn chị Trương Thị Tiểu C phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 000xxxx, ngày 18/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[6] Về việc thi hành bản án khi có hiệu lực pháp luật: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ