vanban.org

Bản án 101/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trang Ngọc P và anh Nguyễn Chí T.

2/. Về nuôi con chung: giao cả hai người con tên Nguyễn Trang Kim Hoa, sinh ngày 08/8/2015 và Nguyễn Trang Thiên Bảo, sinh ngày 22/7/2017 cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án tranh chấp ly hôn giữa chị Trang Ngọc P và anh Nguyễn Chí T"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trang Ngọc P và anh Nguyễn Chí T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2018
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng

Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Nguyễn Thanh Tiền

2/. Ông Ngô Văn Lành

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Trần T Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 226/2018/TLST-HN ngày 25 tháng 6 năm 2018 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Chị Trang Ngọc P, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp CGA, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

2/. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp CG, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

(Chị P và anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2018, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trang Ngọc P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Chí T chung sống với nhau vào khoảng năm 2012. Có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang vào ngày 04/12/2012

Nguyên nhân mâu thuẫn chị P xác định: thời gian đầu vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc. Thời gian sau này vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Anh chị đã ly thân cách nay khoảng 04 tháng qua. Hiện tại vợ chồng không thể hàn gắn được mâu thuẫn với nhau, nên chị yêu cầu xin ly hôn với chồng chị là anh Nguyễn Chí T.

Về con chung: chị P xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Trang Kim Hoa, sinh ngày 08/8/2015 và Nguyễn Trang Thiên Bảo, sinh ngày 22/7/2017. Hiện tại cả hai người con đang sống với chị P. Khi ly hôn chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị P các định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh chị. Khi ly hôn chị P xác định vợ chồng anh chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/7/2018 và đơn xin vắng mặt ngày 13/8/2018 bị đơn anh Nguyễn Chí T trình bày: anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ anh, đồng ý giao hai người con tên Nguyễn Trang Kim Hoa, sinh ngày 08/8/2015 và Nguyễn Trang Thiên Bảo, sinh ngày 22/7/2017 cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án xem xét. Vợ chồng anh chị cũng không có tài sản chung, không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh chị. Khi ly hôn anh T xác định anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Nguyễn Chí T chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Giữa chị P và anh T kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, quá trình Tòa án làm việc thì cả chị P và anh T đều có nguyện vọng muốn được ly hôn với nhau, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị P và anh T là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử tôn trọng sự thỏa thuận của chị P và anh T, giao cả hai người con tên giao người con Nguyễn Trang Kim Hoa, sinh ngày 08/8/2015 và Nguyễn Trang Thiên Bảo, sinh ngày 22/7/2017 cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị P và anh T không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí thì chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị P có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh T. Anh T có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị P và anh T có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị P và anh T.

Về nội dung vụ án: giữa chị P và anh T kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 04/12/2012 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị P đối với anh T thì Hội đồng đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị P và anh T lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân khoảng 04 tháng qua. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Quá trình Tòa án làm việc thì cả chị P và anh T đều có nguyện vọng được ly hôn với nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn trong hôn nhân của anh chị đã rất trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị là không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị P và anh T để anh chị có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, ổn định hơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Giữa chị P và anh T đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận, giao cả hai người con Nguyễn Trang Kim Hoa, sinh ngày 08/8/2015 và Nguyễn Trang Thiên Bảo, sinh ngày 22/7/2017 cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.

Chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Do chị P và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51 và 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trang Ngọc P và anh Nguyễn Chí T.

2/. Về nuôi con chung: giao cả hai người con tên Nguyễn Trang Kim Hoa, sinh ngày 08/8/2015 và Nguyễn Trang Thiên Bảo, sinh ngày 22/7/2017 cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.

Chị P không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí: chị Trang Ngọc P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011223 ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Trang Ngọc P và anh Nguyễn Chí T biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ