vanban.org

Bản án 1003/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Duy Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị G.

2/ Về con chung: Giao 02 trẻ Trần Thị Ái L, sinh ngày 25/9/2007, Trần Tấn T, sinh ngày 10/6/2009 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với bà G cho đến khi có yêu cầu của ông Đ. 3/ Về tài sản chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN DUY Đ - NGUYỄN THỊ G"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Duy Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị G.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1003/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 14/9/2018
V/v : “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sơn

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 337/2018/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 04 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2018/QĐST- HNGĐ ngày 21/8/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Duy Đ – sinh năm: 1977

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G – sinh năm: 1981

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/03/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Duy Đ trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị G tự nguyện kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ năm 2009.

Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 10/2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, hay tranh cãi, vợ ông đã bỏ nhà đi. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của ông chỉ còn là hình thức nên ông có nguyện vọng được ly hôn với bà G.

- Về con chung: 02 trẻ tên Trần Thị Ái L, sinh ngày 25/9/2007, Trần Tấn T, sinh ngày 10/6/2009. Ông Đ yêu cầu nuôi 02 trẻ L, T, không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có

- Nợ chung: Không có.

Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Phía nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: vì đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư ngụ tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà G tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 70 quyển số 01 ngày 30/9/2009 do Ủy ban nhân dân xã T, huyệ n V, Cần Thơ cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà G là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyét vụ án cũng như tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà G, ông Đ khai mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 10 năm 2016. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, hay tranh cãi, bà G đã bỏ nhà đi. Hội đồng xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ với nhau nhưng bà G vẫn cố tình tránh né không đến tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ bà G không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau. Nhận thấy đời sống chung vợ chồng của ông Đ, bà G đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng ông Đ, bà G có 02 con chung: Trần Thị Ái L, sinh ngày 25/9/2007, Trần Tân T, sinh ngày 10/6/2009. Ông Đ yêu cầu được nuôi dưỡng 02 trẻ L, T, không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của trẻ 02 trẻ, do đó có cơ sở chấp nhận, ghi nhận việc ông Đ không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ khai không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hó phát biểu quan điểm về phần thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông Đ phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Duy Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị G.

2/ Về con chung: Giao 02 trẻ Trần Thị Ái L, sinh ngày 25/9/2007, Trần Tấn T, sinh ngày 10/6/2009 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với bà G cho đến khi có yêu cầu của ông Đ.

3/ Về tài sản chung: Không có.

-Nợ chung: Không có.

4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Ông Trần Duy Đ phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà ông Đ đã nộp theo biên lai số 0018169 ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông G đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ