- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1002/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2021 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.
2. Ông Nguyễn Thành Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 30/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3147/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T , sinh năm 1981.
Thường trú: Khu phố 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Phòng 1.10 Cao ốc 107 T, Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D), sinh năm 1967.
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
Địa chỉ: 3799S DRd, D, GA 30721 USA.
Các đương sự đều có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của bà Phạm Thị T :
Bà và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D), sinh năm 1967 tự nguyện kết hôn vào ngày 13 tháng 02 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, vào sổ đăng ký kết hôn số 24. Sau khi kết hôn, ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) trở về Mỹ sinh sống và làm việc, còn bà vẫn ở lại Việt Nam. Do xa cách địa lý và bất đồng về quan điểm nên bà và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) ổn định cuộc sống. Con chung: Bà Phạm Thị T khai không có. Tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T khai không có. Bị đơn là ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) trình bày: Tại đơn thuận tình ly hôn của ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) đã được chứng thực tại Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại H, Texas, Hoa Kỳ ngày 09/02/2021 có nội dung: Ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) xác nhận lời trình bày của bà Phạm Thị T về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay bà Thành xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà Thành. Do bận việc, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị T và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) hiện cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị T , Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phạm Thị T và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) vào sổ đăng ký kết hôn số 24 ngày 13 tháng 02 năm 2017 thì hôn nhân giữa bà Thành và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) là hôn nhân hợp pháp. Bà T yêu cầu được ly hôn ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) vì những mâu thuẫn bất đồng về quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn, lại không có thời gian gần gũi nhau trong cuộc sống, cả hai bên cũng thừa nhận không thể giải quyết bất đồng và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì thời gian xa cách kéo dài, hoàn cảnh mỗi người mỗi nơi nên không có điều kiện gần gũi, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị phai nhạt, mâu thuẫn phát sinh, hạnh phúc vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) cũng đồng ý ly hôn với bà Phạm Thị T .
Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nghĩa vụ sống cùng với nhau trong khi hai vợ chồng bà Thành và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D).
Con chung: Bà Phạm Thị T và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) khai không có.
Tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) khai không có.
Án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị T và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Khoản 1 Điều 38, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T .
Quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) .
Giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân Quận 3,Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13 tháng 02 năm 2017 cho bà Phạm Thị T và ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) không còn giá trị pháp lý.
Con chung: Không có.
Tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có. 2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0093480 ngày 06/01/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị T đã nộp đủ. 3. Bà Phạm Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Huynh Van D (Huỳnh Văn D) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND Quận 3, TP. HCM; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT.(Linh/16b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Trang |