vanban.org

Bản án 100

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố: ị cáo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: ị cáo N 03 ( a) năm tù. Áp dụng Điều 56 của ộ lu t Hình sự tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” theo b n án s 30/2018/HS-ST ngày 16/3/2018 của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết. uộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt chung của hai b n án là 03 ( a) năm 09 (Chín) th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Hùng Cường và Lê Tiến Đạt - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố: ị cáo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
T A ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH ÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 100/2019/HSST
Ngày: 14/8/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: à Hà Thị Ái Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. à Lê Thị Kiều Thu

2. Ông Lê Văn Toàn. Nghề nghiệp : Giáo viên.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Minh Khuê, Thư ký Toà án nhân dân thành ph Phan Thiết – t nh ình Thu n.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Phan Thiết, t nh ình Thu n tham gia phiên toà: Ông Chu Đức Thọ, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết, t nh ình Thu n, Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 103/2019/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2019 đ i với các bị cáo:

1. TRẦN HÙNG N, Sinh năm: 1998 tại t nh Bình Thu n.

Nơi ĐKHKTT và chổ ở: thôn A, xã B, thành ph C, t nh ình Thu n; nghề nghiệp: Thợ Sơn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông T và bà Y. Chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 16/3/2018, bị Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết, t nh ình Thu n tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài s n” quy định tại kho n 1 Điều 138 ộ lu t hình sự năm 1999 (theo b n án s 30/2018/HS-ST).

Tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt từ ngày 23/3/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành ph Phan Thiết. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. LÊ TIẾN M, Sinh ngày: 17/3/2002 tại t nh Nình Thu n.

Nơi ĐKHKTT và chổ ở: khu ph D, phường E, thành ph K, t nh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông W (đã chết) và bà R (đã chết).

Tiền án: không; tiền sự: không

Nhân thân:

Ngày 14/11/2018, bị can bị bắt tạm giữ sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam vì có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 24/01/2019, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Lần phạm tội này đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành ph Phan Thiết khởi t cùng các đồng phạm ở vụ án hình sự khác. Đến ngày 23/03/2019, bị bắt qu tang và tạm giữ do do có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành ph Phan Thiết. ị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người ại di n cho ị c o :

Cha mẹ bị cáo đã chết nên ông X, sinh năm 1986. Trú tại: khu ph U, phường V, thành ph C – í thư Đoàn thanh niên phường V, thành ph Phan Thiết, đại diện cho bị cáo (có mặt).

Luật sư ch ịnh o ch a cho ị c o :

Lu t sư Nguy n Văn E– Văn phòng lu t sư Trung Tín – Đoàn Lu t sư t nh ình Thu n (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 15 giờ ngày 20/3/2019, N (sinh năm 1998, HKTT: thôn A, xã B, thành ph C, t nh ình Thu n) dùng điện thoại di động của mình có s 0359839812 gọi cho một người phụ nữ tên My (không rõ nhân thân và N không còn nhớ s điện thoại của người này) để mua 1.000.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý bán và hẹn N đến phòng 205 - nhà ngh 1991 (thuộc phường V, thành ph C) để tiến hành giao dịch. Khi đến nơi thì V đưa cho My 1.000.000 đồng và My giao lại cho N 01 gói nylon có khóa kéo một đầu, bên trong có chứa ma túy đá. Mua được ma túy N đi đến phòng s 12 của Lê Văn Y (sinh năm 1997, HKTT: khu ph Hiệp Phước, thị trấn Chợ Lầu, huyện ắc Bình, t nh ình Thu n) tại khu nhà trọ Tường thuộc thôn W, xã G, thành ph C. Tại đây, N lấy một ít ma túy vừa mới mua được của My bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong phòng của Y để cùng với Y và Nguy n Anh S (sinh ngày 13/3/2001, HKTT: khu ph H, phường V, thành ph C) sử dụng. Sau khi sử dụng xong thì N về nhà của mình ngủ.

Đến 15 giờ ngày 23/3/2019, N tiếp tục đến phòng trọ của Lê Văn y chơi. Lúc này trong phòng trọ có S, Y, T (sinh ngày 02/02/2001, chỗ ở: khu ph 4, phường Phú Trinh, TP.Phan Thiết), X (sinh ngày 16/01/2001, HKTT: khu ph 4, phường Phú Trinh, thành ph Phan Thiết).

Theo lời khai của N, Nguy n Anh S, Lê Đặng Ngọc X và M: Đến 15 giờ 30 cùng ngày thì có một người tên Văn Duy (không rõ nhân thân và s điện thoại) gọi đến s điện thoại 0926062529 của S hỏi: “Còn đồ không, lấy cái ba” (nghĩa là hỏi còn ma túy không bán cho Duy 300.000 đồng) thì S đồng ý và b o Duy chờ một lát. Sau khi nghe điện thoại xong S quay qua nói với N bán cho S 01 tép ma túy đá với giá 300.000 đồng thì N Đồng ý. Do không có ma túy trong người nên N dùng điện thoại của mình, có s 0359839812 gọi vào s của My để hỏi mua 1.000.000 ma túy đá (N không còn nhớ s điện thoại của My) thì My đồng ý và hẹn đến nhà ngh 1991 tại phường V để giao dịch. Sau đó N thuê xe ôm đi đến điểm hẹn, đến nơi thì N gặp 02 người thanh niên (một người tên Dũng, người còn lại không biết tên, đều không rõ nhân thân) giao cho N 01 gói nylon không màu, có khóa kéo, bên trong có chứa ma túy đá, N đưa lại cho hai người thanh niên kia 1.000.000 đồng. Mua được ma túy N tiếp tục thuê xe ôm quay về lại phòng trọ của Khánh và lấy s ma túy vừa mới mua được của My, dùng kéo y tế N mang theo trước đó phân thành 04 tép ma túy nhỏ đựng trong các gói nylon không màu, hàn kín. Phân xong ma túy N giao cho S 01 tép. Snh n tép ma túy và nói lại với N “Đợi tý nữa đưa tiền”. Sau đó, S lấy tép ma túy N vừa mới đưa cắt bớt ra một ít bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, s còn lại S hàn kín lại như ban đầu rồi bỏ vào trong bao thu c lá Scott và đẩy bao thu c lá về phía X, rồi S, X và N cùng nhau sử dụng ma túy.

Trong lúc sử dụng ma túy thì S có điện thoại cho M (sinh ngày: 17/03/2002, HKTT và chỗ ở: khu ph D, phường E, thành ph K, t nh Đồng Nai), nhờ M mua cho Dũng một hộp cơm và đến để chở S đi có công chuyện. Một lát sau, khi M tới phòng trọ của Y thì S mượn xe của M để đi giao ma túy nhưng M không đồng ý. Sau đó S nói với M “Cầm gói ma túy đi ra ngã ba giao cho người ta lấy 300.000 đồng” (nghĩa là nhờ M cầm ma túy ra chỗ ngã ba cách phòng trọ 400m giao cho đ i tượng Văn Duy để lấy 300.000 đồng); đồng thời S cầm bao thu c lá bên trong có chứa tép ma túy đưa cho X (sinh ngày 16/01/2001, HKTT: khu ph 4, phường ình Hưng, thành phô Phan Thiết). X cầm bao thu c lá này ném ra cửa cho M. M cầm bao thu c lá X vừa mới ném ra rồi mở ra thấy bên trong có chứa 01 tép ma túy đá và hỏi: “Giao cho ai? Ở đâu? Có số điện thoại không?” thì S và X cùng tr lời:“Giao cho đứa bạn chờ ở ngã ba gần phòng trọ lấy 300.000 đồng”. M cầm bao thu c lá có chứa ma túy điều khiển xe mô tô biển s 86 2-047.33 đi đến ngã ba gần hồ bơi Qu c Hùng thuộc thôn W xã G, thành ph C đang đứng chờ giao ma túy cho bạn của Dũng thì bị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy ph i hợp với Công an xã Phong Nẫm, thành ph Phan Thiết kiểm tra. Do ho ng sợ nên M th bao thu c lá Scott bên trong có chứa tép ma túy xu ng đường nhưng bị phát hiện, l p biên b n bắt người phạm tội qu tang và thu giữ v t chứng cùng các tài s n gồm:

- 01 vỏ bao thu c lá hiệu Scott bên trong có chứa 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước (01x03) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Thu giữ được dưới nên đường gần nơi M đang đứng (Ký hiệu M1 khi giám định).

- 01 điện thoại di động màu đen, không có nhãn hiệu, bên trong có chứa sim s 0352617838. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của M.

- 01 chiếc xe máy không nhãn hiệu, màu đen, mang biển s 86 2-047.33, s

máy: 44S11048921, s khung: RLCL44S10 Y048919.

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 23/3/2019, Cơ quan CSĐT Công an t nh ình Thu n tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng s 12 của Lê Văn Khánh tại khu nhà trọ Tường thuộc thôn W xã G, thành ph Phan Thiết. Khi Công an đến phòng trọ s 12 , do bị cáo N sợ quá nên đã chạy vào nhà vệ sinh ném 03 tép ma túy vào bồn cầu, chưa kịp tiêu hủy thì bị phát hiện. Qua khám xét phát hiện thu giữ v t chứng và tài s n liên quan gồm:

- 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy đá tự chế. Lê Văn Khánh khai nh n đây là bộ dụng cụ của Khánh.

- 01 gói nylon không màu có khóa kéo một đầu, kích thước kho ng (04x7,5) cm bên trong có chứa 03 gói nylon không màu, hàn kín, trong đó 02 gói có kích thước (01x04) cm, 01 gói có kích thước (01x04) cm, bên trong 03 gói này đều có chất tinh thể màu trắng. Thu giữ được trong bồn cầu nhà vệ sinh của phòng trọ nơi N đang đứng, N khai nh n đây là ma túy đá của N vừa mua về, chia thành 04 tép và bán cho S 01 tép, còn lại 03 tép thì tàng trữ nhằm mục đích mua bán. (Ký hiệu M2 khi giám định).

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA bên trong có gắn sim s 0359839812, có s Imel 1: 359601055637963, s Imel 2: 359601055637971. Thu giữ của N.

ị cáo N khai nh n toàn bộ s ma túy trên do bị cáo tàng trữ để sử dụng và bán cho các con nghiện khác.

Tại phiên tòa các bị cáo N và M đã khai nh n hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại kết lu n giám định s 277/KLGĐ-PC09 ngày 29/3/2019 của Phòng kỹ thu t hình sự - Công an t nh ình Thu n kết lu n:

- Mẫu v t M1 gửi đi giám định có kh i lượng 0.1455 gam là Methamphetamine.

- Mẫu v t M2 gửi đi giám định có kh i lượng 0.5839 gam là Methamphetamine.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết lu n giám định của Phòng kỹ thu t hình sự - Công an t nh ình Thu n nêu trên.

n cáo trạng s 103/CT – VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Phan Thiết, t nh ình Thu n đã truy t các bị cáo N và M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại kho n 1 Điều 251 của ộ lu t Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công t tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy t hành vi của các bị cáo N và M đủ yếu t cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Phan Thiết giữ quyền công t lu n tội và tranh lu n:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên b : ị cáo N và M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng kho n 1 Điều 251 của ộ lu t hình sự; điểm h kho n 1 Điều 52; điểm s kho n 1 Điều 51 của ộ lu t hình sự xử phạt bị cáo N với mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng kho n 5 Điều 65; Điều 56 của ộ lu t hình sự tổng hợp hình phạt 09 tháng tù theo b n án s 30 ngày 16/3/2018 của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết. uộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt chung của hai b n án là 03 năm 09 tháng tù.

Đề nghị áp dụng kho n 1 Điều 251 của ộ lu t hình sự; điểm s kho n 1 Điều 51; kho n 1 Điều 101; kho n 3 Điều 102 của ộ lu t hình sự xử phạt bị cáo M với mức hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý v t chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c kho n 1 Điều 47 của ộ lu t Hình sự; điểm a, c kho n 2 Điều 106 của ộ lu t t tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì s 277/1; 04 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,4823 gam mẫu v t M2 còn lại sau khi giám đinh, được niêm phong trong phong bì s 277/2 có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an t nh ình Thu n; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 vỏ bao thu c lá hiệu scott.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động màu đen, không có nhãn hiệu, bên trong có chứa 01 sim s ; 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA bên trong có gắn sim s , có s Imel 1: 359601055637963, s Imel 2: 359601055637971, là tài s n của các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua bán ma túy trong vụ án.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh lu n gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên.

Người bào chữa ch định cho bị cáo M th ng nhất quan điểm truy t và việc áp dụng các tình tiết gi m nhẹ cũng như mức hình phạt Viện kiểm sát đã đề nghị đ i với bị cáo M, bị cáo phạm tội khi ở độ tuổi chưa thành niên nh n thức về hành vi có phần hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của ộ lu t hình sự tại chương XII; Điều 15 của ộ lu t hình sự xem xét gi m nhẹ hình phạt đ i với bị cáo.

Người đại diện cho bị cáo M là ông x – í thư Đoàn thanh niên phường V, thành ph C trình bày: Các thủ tục t tụng đ i với bị cáo M từ quá trình điều tra đến xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp lu t, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc các quy định của pháp lu t xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo M.

Lời nói sau cùng của bị cáo N và bị cáo M: sau khi phạm tội bị cáo rất ân h n về hành vi đã thực hiện mong Hội đồng xét xử khoan hồng gi m nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ học t p rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành ph Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành ph Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của ộ lu t t tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nh n đã thực hiện hành vi phạm tội. Xét lời khai nh n tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an thành ph Phan Thiết, cũng như lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết lu n:

Vào lúc kho ng 15 giờ 30 phút, ngày 23/03/2019, tại phòng trọ s 12 của Y tại khu nhà trọ Tường thuộc thôn W xã G, thành ph C, bị cáo N đã bán cho S 01 tép ma túy là Methamphetamine với giá 300.000 đồng để S bán lại cho một đ i tượng tênVăn Duy. Sau khi nh n 01 tép ma túy từ bị cáo N, thì S lấy ra một ít để sử dụng, còn lại 0.1455 gam Methamphetamine, S không trực tiếp đi giao bán cho Văn Duy mà đưa cho bị cáo M để nhờ Đạt đi giao ma túy cho đ i tượng có tên Văn Duy, lấy 300.000 đồng. Khi bị cáo M vừa mang tép ma túy này đến điểm hẹn thì bị bị Phòng C nh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an t nh ình Thu n phát hiện bắt qu tang.

Khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Y lúc này trong phòng trọ có N, S, Y, X, T phát hiện N có hành vi tàng trữ trái phép 0.5839 gam Methamphetamine, nhằm mục đích bán lại cho các con nghiện khác.

Do v y hành vi của các bị cáo đã đủ yếu t cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt đ i với các bị cáo được quy định tại kho n 1 Điều 251 của ộ lu t hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Phan Thiết đã truy t các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp lu t.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy: các ị cáo nh n thức được những tác hại nguy hiểm của ma túy và việc mua bán chất ma túy là trái pháp lu t, Nhà nước nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc đ i với mọi hành vi mua bán, v n chuyển, tàng trữ… trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo đã xem thường pháp lu t, đã bán ma túy để thu lợi bất chính, bất chấp h u qu . Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chế độ qu n lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn gây mất an ninh tr t tự tại địa phương, thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội. Đ i với bị cáo N, ngày 16/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết, t nh ình Thu n tuyên phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài s n” , chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội mới do c ý nên thuộc trường hợp “tái phạm”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h kho n 1 Điều 52 ộ lu t hình sự. Đ i với bị cáo M, ngày 14/11/2018, bị bắt tạm giữ sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam vì có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 24/01/2019, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Lần phạm tội này đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành ph Phan Thiết khởi t cùng các đồng phạm ở vụ án hình sự khác. Đến ngày 23/3/2019, bị bắt qu tang và tạm giữ do do có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì v y cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, xét thấy tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 của ộ lu t hình sự.

Đ i với M khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định đ i với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Chương XII ộ lu t hình sự, quy định cụ thể tại các điều 91, kho n 1 điều 101 ộ lu t Hình sự.

Đ i với bị cáo N, tại b n án s 30/2018/HS-ST ngày 16/3/2018 của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết, t nh ình Thu n, tuyên phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài s n”. ị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo, căn cứ vào kho n 5 Điều 65 bộ lu t hình sự chuyển 09 tháng tù, cho hưởng án treo sang thành 09 tháng tù giam. Áp dụng Điều 56 ộ lu t hình sự tổng hợp hình phạt đ i với bị cáo.

Đ i với việc bị cáo M chưa giao ma túy cho đ i tượng tên Văn Duy, nhưng bị cáo và S đã thỏa thu n xong việc đi giao ma túy, giữa S và đ i tượng Văn Duy cũng đã thỏa thu n xong việc mua bán, việc chưa giao nh n ma túy là do trong lúc bị cáo đang chuẩn bị giao ma túy thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ, do v y trường hợp này không thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên không thể áp dụng kho ng 3 Điều 103 của ộ lu t hình sự, tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét đ i với bị cáo M.

Đ i với S, X, mặc dù các lời khai ban đầu cho thấy có dấu hiệu đồng phạm. Tuy nhiên, do hiện các đ i tượng này đã bỏ tr n, chưa làm rõ cụ thể hành vi khách quan và di n biến. Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành ph Phan Thiết đã ra Thông báo truy tìm, đồng thời ngày 20/6/2019, Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành ph Phan Thiết đã ra Quyết định tách vụ án hình sự s 06 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của các đ i tượng này thành một vụ án độc l p, khi nào làm rõ sẽ khởi t , xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đ i với Y và T, là người có mặt tại phòng trọ của Y vào thời điểm x y ra vụ án. Tuy nhiên không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nói trên, vì v y không xử lý Y và T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm, là có cơ sở.

Đ i với đ i tượng có tên là Văn Duy là người mua ma túy của Svà đ i tượng tên My là người bán ma túy cho bị cáo Cường: do không xác định được nhân thân nên Cơ quan c nh sát điều tra – Công an thành ph Phan Thiết không xử lý là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, Lu t sư bào chữa cho bị cáo M th ng nhất quan điểm truy t và việc áp dụng các tình tiết gi m nhẹ cũng như mức hình phạt Viện kiểm sát đã đề nghị đ i với bị cáo , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo. kiến của đại diện Viện kiểm sát và Lu t sư đã được xem xét cân nhắc trong quá trình nghị án.

Về xử lý v t chứng:

Đ i với các v t chứng sau:

- Một gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì s 277/1; 04 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,4823 gam mẫu v t M2 còn lại sau khi giám đinh, được niêm phong trong phong bì s 277/2 có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an t nh ình Thu n; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 vỏ bao thu c lá hiệu scott. Đây là v t chứng thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng. Do v y, cần áp dụng quy định tại điểm c kho n 1 Điều 47 của ộ lu t hình sự và điểm c kho n 2 Điều 106 của ộ lu t t tụng hình sự quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Một điện thoại di động màu đen, không có nhãn hiệu, bên trong có chứa 01 sim s ; 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA bên trong có gắn sim s , có s Imel 1: 359601055637963, s Imel 2: 359601055637971, là tài s n của các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua bán ma túy trong vụ án. Do v y cần áp dụng quy định tại điểm a kho n 1 Điều 47 của ộ lu t hình sự và điểm a kho n 2 Điều 106 của ộ lu t t tụng hình sự quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Một chiếc xe mô tô biển s 86 2-047.33, s máy: 44S11048921, s khung: RLCL44S10BY048919 do M sử dụng để đi giao ma túy, quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe của anh Mai Thanh Phong (sinh năm 1996, HKTT: thôn Thắng Hòa, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thu n ắc, t nh ình Thu n). Vào ngày 23/03/2019, anh Phong có cho bị cáo M mượn xe để đi có việc và không biết M sử dụng chiếc xe vào mục đích phạm tội. Vì v y Cơ quan CSĐT công an thành ph Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý v t chứng tr lại chiếc xe nói trên cho chủ sở hữu. Sau khi nh n lại tài s n, anh Phong không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Về án phí : Các bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào kho n 1 Điều 251; điểm h kho n 1 Điều 52; điểm s kho n 1 Điều 51; kho n 5 Điều 65 của ộ lu t Hình sự.

Tuyên ố: ị cáo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: ị cáo N 03 ( a) năm tù. Áp dụng Điều 56 của ộ lu t Hình sự tổng hợp hình phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” theo b n án s 30/2018/HS-ST ngày 16/3/2018 của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết. uộc bị cáo ph i chấp hành hình phạt chung của hai b n án là 03 ( a) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2019.

Căn cứ vào kho n 1 Điều 251; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 91; kho n 1 Điều 101 của ộ lu t Hình sự.

Tuyên ố: ị cáo M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: ị cáo M 21(Hai mươi m t) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2019.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c kho n 1 Điều 47 của ộ lu t hình sự; điểm a, c kho n 2 Điều 106 của ộ lu t t tụng hình sự, tuyên:

- Một gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì s 277/1; 04 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,4823 gam mẫu v t M2 còn lại sau khi giám đinh, được niêm phong trong phong bì s 277/2 có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an t nh ình Thu n; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 vỏ bao thu c lá hiệu scott. Đây là các v t chứng thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động màu đen, không có nhãn hiệu, bên trong có chứa 01 sim s ; 01 điện thoại di động màu đen hiệu NOKIA bên trong có gắn sim s , có s Imel 1: 359601055637963, s Imel 2: 359601055637971;

Các v t chứng ghi trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành ph Phan Thiết qu n lý theo biên b n giao nh n v t chứng, tài s n s 127 ngày 25/7/2019.

Về n phí: Áp dụng Điều 136 của ộ lu t t tụng hình sự; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội về mức thu, mi n, gi m, thu, nộp qu n lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, tuyên buộc các bị cáo N và M, mỗi bị cáo ph i nộp 200.000 đồng án phí hình

sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo được quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2019);

Cỡ chữ