- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn H - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2026/HS-ST Ngày 21 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Quốc Hiệu và bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng (Cơ sở 2: xóm F, xã T, tỉnh Cao Bằng) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 77/2026/TLST - HS ngày 24 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2026/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Mạc Văn H, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 05 năm 1990 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng;
Nơi thường trú và nơi ở: xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Mạc Văn T (đã chết) và bà Mã Thị T1 (sinh năm 1958); Vợ: Hoàng Thị C (sinh năm 1987) và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh C. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Hoàng Văn N, sinh năm 1990;
- Hoàng Văn L, sinh năm 1996;
- Hoàng Văn T2, sinh năm 1993.
Cùng trú tại: xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
(Đều vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 09/12/2025, tổ công tác Đồn biên phòng Đ phối hợp với Phòng Nghiệp vụ Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C và Công an xã Đ thực hiện nhiệm vụ tại xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng phát hiện tại nhà của Hoàng Văn T2 có 02 người đàn ông đang ngồi uống nước trong nhà có biểu hiện nghi vấn về mua bán ma túy. Qua kiểm tra, xác định 02 người đàn ông trên là Mạc Văn H, sinh năm 1990 và Hoàng Văn T2, sinh năm 1993, đều trú tại xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng. Huấn tự nguyện giao nộp 01 gói giấy màu vàng đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng để trên bàn uống nước. H khai nhận là ma túy, loại heroine, H bán cho T2; 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vivo, màn hình cảm ứng, điện thoại đã qua sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đúng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Đồn biên phòng Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mạc Văn H và Hoàng Văn T2, cùng trú tại xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng, kết quả không phát hiện, thu giữ gì.
Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 10/12/2025, Đồn Biên phòng Đ phối hợp với Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ đối với Mạc Văn H và gửi mẫu giám định. Kết quả 01 gói chất bột màu trắng thu giữ có khối lượng 0,03 gam. Tại Kết luận giám định số 582/KL-KTHS ngày 17/12/2025 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận: chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Mạc Văn H khai: bị cáo bắt đầu bán ma túy từ tháng 10/2025 đến thời điểm bị bắt, loại ma túy bán là heroine. Ma túy không chia thành gói nhỏ để sẵn, ai hỏi thì bị cáo mới chia rồi gói lại để bán. Địa điểm bán ma túy không cố định. Những người mua ma túy sẽ gặp trực tiếp hoặc gọi điện thoại di động, nhắn tin để hỏi mua. Khi bán ma túy, bị cáo nhận tiền trước rồi mới đưa ma túy cho những người mua. Mạc Văn H đã được bán ma túy cho 03 người, cụ thể:
Bán cho Hoàng Văn N, là người cùng xóm 01 lần, số tiền 700.000 đồng vào khoảng đầu tháng 10/2025, địa điểm ở ngoài đường ngã ba Đ tiếp giáp giữa xóm K và Đ, xã Đ, tỉnh Cao Bằng;
Bán cho Hoàng Văn L, là người cùng xóm 02 lần, mỗi lần bán 100.000 đồng. Thời gian bán vào khoảng cuối tháng 12/2025, địa điểm bán ở đường cái phía trước cầu ngầm đi vào xóm H, xã Đ, tỉnh Cao Bằng;
Bán cho Hoàng Văn T2, là người cùng xóm 03 lần, mỗi lần bán 100.000 đồng. Lần 01: khoảng tháng 11/2025, địa điểm bán ở phía sau nhà của T2; Lần 02: khoảng tháng 12/2025, địa điểm mua bán tại đầu cầu N, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; lần thứ 03: vào ngày 09/12/2025, H nhận tiền với T2 100.000 đồng để đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, H quay về nhà T2, chưa kịp bán ma túy cho T2 thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.
Ngoài ra, H còn được bán ma túy cho nhiều người nhưng không biết tên và địa chỉ.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai của người làm chứng Hoàng Văn N, Hoàng Văn L và Hoàng Văn T2. Những người này đều khai nhận đã được mua ma túy, loại heroine với Mạc Văn H để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 ra Quyết định chuyển vật chứng đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSKV3 ngày 23 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Mạc Văn H ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Mạc Văn H thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với số ma túy thu giữ là của bị cáo, có khối lượng 0,33 gam, bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời; 01 (một) gói giấy màu đen và 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Vivo, màn hình cảm ứng, điện thoại đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H. Xử phạt bị cáo Mạc Văn H từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Mạc Văn H mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 09/12/2025 tại xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng (gồm vỏ phong bì niêm phong tang vật và giấy gói tang vật)”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối với Mạc Văn H ngày 09/12/2025”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/5/2026.
Truy thu số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Mạc Văn H do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo có đơn đề nghị miễn giảm án phí, trong đơn thể hiện, bị cáo là dân tộc thiểu số đang cư trú tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo không có kiến gì tranh luận thêm. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng Đ, Cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các lời khai của những người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra về cách thức mua bán ma túy, thời gian, địa điểm cũng như số lần mua bán ma túy đã thực hiện, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo H. Cụ thể: Hồi 14 giờ 00 ngày 09/12/2025, tổ công tác Đồn Biên phòng Đ phối hợp với Phòng Nghiệp vụ Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C và Công an xã Đ bắt quả tang Mạc Văn H, sinh năm 1990, trú tại xóm K, xã Đ về hành vi tàng trữ 0,03 gam ma túy, loại Heroine. Mục đích tàng trữ để sử dụng và bán.
Quá trình điều tra xác định Mạc Văn H đã bán ma túy 06 lần cho 03 người, thu lợi bất chính 1.200.000 đồng. Ngoài ra, H còn được bán ma túy cho nhiều người nhưng không biết tên và địa chỉ.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thưc hiện. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, làm giảm sút sức lao động, hủy hoại đến sức khỏe và trí tuệ của con người, khiến dư luận và nhân dân địa phương bất bình, và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác; xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo là 0,33 gam (không phẩy ba mươi ba gam); bị cáo H bán ma túy nhiều lần, mỗi lần bán đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Mạc Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Mạc Văn H từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; 01 (một) gói giấy màu vàng đen được sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, xác định được bị cáo H đã bán ma túy 06 lần cho 03 người, thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
. Các nhận định khác:
Hoàng Văn T2 là người thỏa thuận mua ma túy với Mạc Văn H với số tiền 100.000 đồng, T2 đã đưa tiền cho H. Khối lượng ma túy thu giữ được đối với H có khối lượng 0,03 gam, một phần số ma túy thu giữ này H để bán cho T2. Do đó, T2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, khối lượng ma túy thu giữ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể xác định T2 dương tính với chất ma túy, T2 không có tiền án, tiền sự, không thuộc các trường hợp bị xử lý hình sự theo Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn T2 bằng hình thức phạt tiền, số tiền 3.500.000 đồng là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với Hoàng Văn L và Hoàng Văn N, quá trình điều tra xác định đều được mua ma túy với bị cáo Mạc Văn H để sử dụng. Kết quả xét nghiệm nhanh cơ thể của L và N đều dương tính với chất ma túy, nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do đó, Đồn Biên phòng Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L và N bằng hình thức cảnh cáo là đúng theo quy định của pháp luật.
Hoàng Thị T3 là chị gái ruột của Hoàng Văn L. Quá trình điều tra xác định T3 chuyển tiền vào tài khoản cho Mạc Văn H (là anh rể của L) để H đưa tiền lại cho L để chi tiêu cá nhân. Việc L sử dụng một phần tiền mua ma túy với H, T3 không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý Thể là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho bị cáo Mạc Văn H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.
. Về án phí: Bị cáo Mạc Văn H là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có đơn đề nghị miễn giảm án phí, trong đơn thể hiện, bị cáo đang cư trú tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mạc Văn H 07 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2025;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Mạc Văn H mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 09/12/2025 tại xóm K, xã Đ, tỉnh Cao Bằng (gồm vỏ phong bì niêm phong tang vật và giấy gói tang vật)”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Điện thoại di động tạm giữ đối với Mạc Văn H ngày 09/12/2025”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/5/2026.
- Truy thu số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Mạc Văn H do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Mạc Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo Mạc Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - VKSND khu vực 3; - Cơ quan điều tra - CA tỉnh Cao Bằng; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh Cao Bằng (PV06); - Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - CA tỉnh Cao Bằng (PC10) - Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 - Cao Bằng; - Công an xã Đàm Thủy; - Bị cáo; - UBND xã Đàm Thủy (Bằng T/B); - Lưu HS vụ án; - Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bế Thị Thùy Linh |