- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Văn K - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2026/HS-ST Ngày 18-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liễu Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lợi;
Ông Nguyễn Đình Tư;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Đức Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2026, Quyết định thay đổi kiểm sát viên số: 06/QĐ-VKSKV2 ngày 18 tháng 8 năm 2026, đối với bị cáo:
Vy Văn K; sinh ngày 26 tháng 12 năm 2001 tại xã V1, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn T1 (nay là thôn B), xã V1, tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: 0202010064**, ngày cấp: 21-02-2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vy Văn L (đã chết) và bà Mã Thị V2; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 37/2023/QĐ-TA ngày 21-6-2023 của Tòa án nhân dân quận T2, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, ngày 31-5-2025 chấp hành xong; tại Quyết định số 37/2021/QĐ-TA ngày 28-10-2021 của Tòa án nhân dân huyện V1, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, ngày 11-02-2023 chấp hành xong; nhân thân: Tại Quyết định số 61/QĐ-UBND ngày 10-5-2021 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Vy Văn K với thời hạn 03 tháng, ngày 10-8-2021 chấp hành xong, đã được xóa tiền sự; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 25-5-2026, bị bắt ngày 26-5-2026, tạm giam từ ngày 28-5-2026 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vy Văn K là người nghiện chất ma túy, tại Quyết định số 37/2023/QĐ-TA ngày 21-6-2023 của Tòa án nhân dân quận T2, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, ngày 31-5-2025 chấp hành xong; ngày 04-6-2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 61/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Vy Văn K với thời hạn 02 năm kể từ ngày 04-6-2025 đến ngày 04-6-2027. Từ tháng 7-2025, Vy Văn K không ở địa phương, thay đổi chỗ trọ nhiều nơi, không nhớ cụ thể nơi ở trọ, làm nhân viên giao hàng tại phường Đ, thành phố Hà Nội. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện, Vy Văn K vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 22-5-2026, Vy Văn K đón xe khách đến khu vực cạnh đường cao tốc H – T3, gặp và hỏi mua ma túy với một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ, không biết mặt đang đứng ở sau bức tường. Vy Văn K đưa 200.000 (hai trăm nghìn) đồng qua lỗ gạch và nhận từ người đàn ông đứng đằng sau bức tường 01 (một) gói ma túy Heroin; Vy Văn K nhận lấy gói ma túy cất trong người rồi đi về phòng trọ ngủ. Đến sáng ngày 23-5-2026, Vy Văn K mang theo gói ma túy, đón xe khách đi về nhà tại thôn T1, xã V1, tỉnh Lạng Sơn; Vy Văn K lấy gói ma túy ra sử dụng hết bằng hình thức chích ở bụi cây gần nhà. Đến ngày 25-5-2026, Công an xã V1, tỉnh Lạng Sơn triệu tập Vy Văn K đến làm việc, Vy Văn K đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã lập biên bản sự việc, phối hợp với Trạm y tế xã tiến hành kiểm tra xét nghiệm chất ma túy xác định Vy Văn K dương tính với ma túy; đồng thời tiến hành thu mẫu nước tiểu của Vy Văn K; tại Kết luận giám định số 536/KL-KTHS ngày 28-5-2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Mẫu nước tiểu thu của Vy Văn K gửi giám định tìm thấy chất ma túy Morphine” (là chất chuyển hóa của chất ma túy Heroin).
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSKV2 ngày 21-7-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Vy Văn K về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố, giữ nguyên các lời khai về hành vi đã thực hiện và thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; bị cáo không bị thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Vy Văn K phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Vy Văn K là người nghiện chất ma túy đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 61/QĐ-UBND ngày 04-6-2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn, theo quy định của Luật phòng chống ma túy; ngày 23-5-2026, Vy Văn K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroin bằng hình thức chích; qua giám định đã tìm thấy tìm thấy chất ma túy Morphine (là chất chuyển hóa của chất ma túy Heroin) trong nước tiểu Vy Văn K. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vy Văn K phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, đã chấp hành xong và được xóa; hai lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tuy đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa tiền sự, xét thấy có nhân thân xấu; đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, điều này cho thấy bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng, Cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo, nội dung phù hợp với nhận định được chấp nhận, nội dung không phù hợp với nhận định không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Vy Văn K phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Vy Văn K 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 5 năm 2026.
3. Về án phí:
Bị cáo Vy Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 2 - Lạng Sơn; - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - Công an tỉnh Lạng Sơn (Phòng hồ sơ); - CQTHAHS CA tỉnh Lạng Sơn; - Trại TG CA tỉnh Lạng Sơn (phân trại TG N); - Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn (Phòng THADS KV*); - Bị cáo; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Liễu Thị Hạnh |