vanban.org

Bản án 100/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc C - Sử dụng trái phép chất ma tuý - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2026/HS-ST
Ngày: 09/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi

2. Ông Nguyễn Văn Vui

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 89/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc C, Giới tính: Nam; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1996; tại tỉnh Đồng Tháp; Số căn cước công dân: 082096013513; cấp ngày 23 tháng 02 năm 2025, Nơi cấp: Cục C1 về TTXH – Bộ C2; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; Mẹ: Đỗ Thị Thúy L, sinh năm 1980; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: 01 lần: năm 2023, bị Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 28/2023/QĐ-TA ngày 11/9/2023 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 19/02/2025. (Hiện đang bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú từ ngày 22/2/2025 đến ngày 22/02/2027);

Nhân thân: - Ngày 29/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản chấp hành xong vào ngày 20/3/2015 (đã xóa án tích);

- Ngày 29/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong vào ngày 28/9/2017 (đã xóa án tích).

- Ngày 30/11/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 06/4/2019 (đã xóa án tích).

- Ngày 23/7/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong vào ngày 15/4/2021 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/01/2026 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Lê Minh P, sinh năm 1995. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số S, T, phường V, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện nay: ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

+ Lưu Minh H, sinh năm 1997. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Ấ, xã Q, thành phố Hà Nội.

Nơi ở hiện nay: ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

+ Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A Đ, phường C, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện nay: ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Quốc C đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 105/QĐ-UBND ngày 22/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) từ ngày 22/02/2025 đến 22/02/2027. Trong tháng 10 năm 2025 bị cáo đã 02 (hai) lần sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 29/10/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Wave màu đen đến nhà của Nguyễn Thanh P1 để mua ma túy với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, bị cáo đem ma túy đến nhà hoang (không có người ở) thuộc ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp một mình sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 15 giờ ngày 30/10/2025, bị cáo điện thoại cho Lê Minh P để nhờ P chở bị cáo C đi khám bệnh. P chở bị cáo C đến nhà trọ của Lưu Minh H, P vào nhà trọ còn bị cáo C lấy xe mô tô của P đi khám bệnh. Sau khi khám bệnh xong, bị cáo C trở lại nhà trọ của H, cả ba cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, ma túy và bộ D sử dụng ma túy là do H và P mua, chuẩn bị. Sau khi hút ma túy xong, P chở bị cáo C về nhà hoang thuộc ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Trên đường về thì bị lực lượng Công an kiểm tra và mời về làm việc.

Bản kết luận giám định số 2196/KL-KTHS ngày 08/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Quốc C, chứa trong 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong mã số NS2 24037344 có các chữ kí ghi họ tên: Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Thanh P1, Trần Phan Thanh T2.

Ngoài ra Cáo trạng Viện kiểm sát còn nêu:

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Lưu Minh H và Lê Minh P, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đang tiến hành điều tra theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thanh P1, sinh ngày 18/7/1975, cư trú ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp, qua làm việc chưa đủ căn cứ để khởi tố P1.

Bản cáo trạng số 125/CT-VKSKV2 ngày 14/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Nguyễn Quốc C đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2026.

Về vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bình nhựa màu đỏ viền trắng, nắp màu xanh dương;

+ 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong có một đầu phình to dạng phễu;

+ 02 (hai) cây tiêm;

+ 01 (một) chai bằng nhựa kiểu chai sting được hơ nóng rút ngắn lại gắn với một nắp chai màu xanh có khoét 02 lỗ tròn, một lỗ gắn với ống hút nhựa 02 màu (một đoạn màu đỏ và một đoạn màu trắng);

+ 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ, được hàn kín một đầu;

+ 01 (một) que test nhanh ma túy Methamphetamine sau khi đã test nhanh nước tiểu của Nguyễn Quốc C vào ngày 11/11/2025, ghi nhận dương tính với loại ma túy Methamphetamine và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu “FASTEP RAPID DIAGNOSTIC TEST”, tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 24074697, có chữ ký của Nguyễn Quốc C, Nguyễn Thanh P1, Nguyễn Tấn T1 và Trần Phan Thanh T2.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi của bị cáo; bị cáo thống nhất với các kết luận giám định, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Bản kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 105/QĐ-UBND ngày 22/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) từ ngày 22/02/2025 đến 22/02/2027.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận trong tháng 10 năm 2025 đã 02 (hai) lần sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể là ngày 29/10/2025 và ngày 30/10/2025 nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, sau đó bị Công an mời làm việc và phát hiện bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo Bản kết luận giám định số 2196/KL-KTHS ngày 08/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của bị cáo.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a)…

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;

Về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng dược liệu, dược phẩm độc hại mà cụ thể trong vụ án này là chất ma túy, hành vi này gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, mất khả năng lao động; làm suy thoái giống nòi, suy thoái nhân cách con người, gây ra các bệnh tật, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo đã được chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật về ma túy, bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân xấu: 01 lần bị Tòa án xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản tài sản”; 03 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích). Tuy nhiên bị cáo không sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục vi phạm, điều này cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 2 lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng gồm: 01 (một) bình nhựa màu đỏ viền trắng, nắp màu xanh dương; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong có một đầu phình to dạng phễu; 02 (hai) cây tiêm; 01 (một) chai bằng nhựa kiểu chai sting được hơ nóng rút ngắn lại gắn với một nắp chai màu xanh có khoét 02 lỗ tròn, một lỗ gắn với ống hút nhựa 02 màu (một đoạn màu đỏ và một đoạn màu trắng); 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ, được hàn kín một đầu. Đây là dụng cụ bị cáo dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) que test nhanh ma túy Methamphetamine sau khi đã test nhanh nước tiểu của Nguyễn Quốc C vào ngày 11/11/2025, ghi nhận dương tính với loại ma túy Methamphetamine và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu “FASTEP RAPID DIAGNOSTIC TEST”, tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 24074697, có chữ ký của Nguyễn Quốc C, Nguyễn Thanh P1, Nguyễn Tấn T1 và Trần Phan Thanh T2. Đây là chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Qua xem xét quan điểm của Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bình nhựa màu đỏ viền trắng, nắp màu xanh dương; 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong có một đầu phình to dạng phễu; 02 (hai) cây tiêm; 01 (một) chai bằng nhựa kiểu chai sting được hơ nóng rút ngắn lại gắn với một nắp chai màu xanh có khoét 02 lỗ tròn, một lỗ gắn với ống hút nhựa 02 màu (một đoạn màu đỏ và một đoạn màu trắng); 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ, được hàn kín một đầu

* Lưu trữ theo hồ sơ vụ án:

+ 01 (một) que test nhanh ma túy Methamphetamine sau khi đã test nhanh nước tiểu của Nguyễn Quốc C vào ngày 11/11/2025, ghi nhận dương tính với loại ma túy Methamphetamine và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu “FASTEP RAPID DIAGNOSTIC TEST”, tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3 24074697, có chữ ký của Nguyễn Quốc C, Nguyễn Thanh P1, Nguyễn Tấn T1 và Trần Phan Thanh T2.

Thi hành khi án có hiệu lực.

(Tang vật theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. (Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết)./.

Cỡ chữ