- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sơn Thị Chan Đ - Lý Chanh Th"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị Chan Đ đối với bị đơn ông Lý Chanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2026/HNGĐ-ST Ngày: 13-4-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Đắc Cẩm Tú;
Ông Triệu Láth.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Trong ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2026/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Sơn Thị Chan Đ, sinh ngày 01/3/1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu V, phường K, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Lý Chanh T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu V, phường K, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 24 tháng 02 năm 2026, nguyên đơn bà Sơn Thị Chan Đ trình bày:
Bà Sơn Thị Chan Đ với ông Lý Chanh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K vào ngày 15/12/2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2025 cho đến nay. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà Đ và ông T có 01 con chung là Lý Thị N, sinh ngày 05/7/2010 hiện đang sống chung với bà Đ. Bà Đ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Lý Chanh T: Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, nhưng ông Lý Chanh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Toà án.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 3 năm 2026, con chung Lý Thị N trình bày: Khi cha mẹ ly hôn không còn sống chung với nhau, cháu có nguyện vọng sống với mẹ là Sơn Thị Chan Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn bà Sơn Thị Chan Đ và bị đơn ông Lý Chanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ hai nhưng vắng mặt, bà Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ và ông T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị Chan Đ và ông Lý Chanh T có đăng ký kết hôn vào ngày 15/12/2008, tại Ủy ban nhân dân phường K nên quan hệ hôn nhân giữa bà Sơn Thị Chan Đ và ông Lý Chanh T là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà Đ và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng ý kiến. Bà Đ và ông T đã không còn sống chung với nhau từ tháng 9/2025 đến nay không hàn gắn được dẫn đến bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà Đ và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ.
Về con chung: Bà Đ và ông T có 01 con chung là Lý Thị N, sinh ngày 05/7/2010. Xét thấy, hiện nay con chung đang sống chung với bà Đ và có nguyện vọng sống với bà Đ, bà Đ cũng yêu cầu được quyền nuôi con. Do đó, căn cứ vào nguyện vọng của con và nhằm để ổn định cuộc sống hiện tại, không làm ảnh hưởng đến tâm lý, việc học của con chung thì cần thiết giao con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Ông T được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Sơn Thị Chan Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị Chan Đ đối với bị đơn ông Lý Chanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị Chan Đ được ly hôn với ông Lý Chanh T.
2. Về con chung: Giao cho bà Sơn Thị Chan Đ được quyền trực tiếp nuôi con chung là Lý Thị N, sinh ngày 05/7/2010 cho đến khi con chung Lý Thị N đủ 18 tuổi. Ông Lý Chanh T được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn bà Sơn Thị Chan Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Sơn Thị Chan Đ và ông Lý Chanh T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Về án phí: Bà Sơn Thị Chan Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu Tạm ứng án phí, Lệ phí Toà án số 0003417 ngày 24/02/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Sơn Thị Chan Đ đã nộp xong.
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
8. Về việc thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 – Cần Thơ; - Các đương sự; - TAND thành phố Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 8 – Cần Thơ; - UBND phường Khánh Hòa, TPCT (Theo GCNKH số 112 ngày 15/12/2008 của UBND p. Khánh Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh ST cũ); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mến |