vanban.org

Bản án 100/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Loan được ly hôn anh Tống Bá Khoa

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Loan trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LK"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Loan được ly hôn anh Tống Bá Khoa
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2026/HNGĐ-ST
Ngày 21/4/2026
V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn La

2. Ông Đoàn Văn Cương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.

Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trọng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.

Ngày 21/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 491/2025/TLST-HNGĐ ngày 30/12/2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96a/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/3/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 64a/2026/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2026 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Loan, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Đồng Man, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Tống Bá Khoa, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Đồng Man, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện cùng những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Phạm Thị Loan trình bày như sau:

Ngày 04/11/2019 chị và anh Tống Bá Khoa kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau tại thôn Đồng Man, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu vợ chồng có cuộc sống hòa thuận đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống làm ăn kinh tế và sinh hoạt gia đình dẫn đến vợ chồng cãi vã, không có tiếng nói chung khiến tình cảm hai vợ chồng không còn như trước. Vợ chồng không còn thương yêu tin tưởng nhau nữa. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng vợ chồng không thể đoàn tụ. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm chăm sóc ai.

Nay chị xác định vợ chồng không còn chung sống với nhau được nữa, mỗi người có một cuộc sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết ly hôn với anh Tống Bá Khoa

Về con chung: Chị và anh Tống Bá Khoa trong thời gian chung sống có 01 con chung là cháu Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020. Con chung đang ở với chị và hiện phát triển bình thường nên ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu anh Khoa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định vợ chồng không có vướng mắc nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại biên bản xác minh với ông Tống Bá Chuyền, sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn Đồng Man, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh là cha đẻ của anh Tống Bá Khoa. Tòa án được cung cấp như sau:

Ngày 04/11/2019 chị Phạm Thị Loan và anh Tống Bá Khoa kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn anh chị về chung sống nhau tại thôn Đồng Man, xã Nghĩa Phương. Quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị hòa thuận sau một khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn thế nào gia đình không nắm được chỉ biết anh chị ấy đã không còn chung sống với nhau từ năm 2023 đến nay. Từ đó đến nay anh chị ấy anh chị ấy đã cắt đứt mọi quan hệ về mặt tình cảm và kinh tế. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Nay chị Loan đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Khoa thì gia đình cũng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian chung sống chị Loan và anh Khoa có 01 con chung là cháu Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020, cháu hiện đang ở với chị Loan và phát triển bình thường. Anh Khoa đang đi làm ăn kinh tế nhưng thường vẫn về nhà, các văn bản của Tòa án tôi (Chuyền) đều thông báo, giao lại cho anh Khoa được biết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Khoa vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Loan có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị giữ nguyên các yêu cầu, ý kiến của mình. Bị đơn anh Tống Bá Khoa vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Loan được ly hôn anh Tống Bá Khoa

- Về con chung: Giao con chung là Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020 cho chị Phạm Thị Loan trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

- Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Thị Loan và anh Tống Bá Khoa không đề nghị giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Loan cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Loan và anh Tống Bá Khoa đăng ký kết hôn ngày 04/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Loan và anh Khoa là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, HĐXX xét thấy: Lời khai của chị Loan phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau nữa. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Như vậy HĐXX xác định chị Loan và anh Khoa trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ mọi việc bảo vệ hạnh phúc gia đình. Anh chị xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân đến nay không ai quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho ai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích, phân tích cho chị Loan tuy nhiên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu và cương quyết xin ly hôn anh Khoa. HĐXX thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã căng thẳng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị Loan được ly hôn anh Khoa như vậy là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thị Loan và anh Tống Bá Khoa có 01 con chung là cháu Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020. Khởi kiện chị Loan đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung mà không yêu cầu anh Khoa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

HĐXX thấy: Chị Loan và anh Khoa có 01 con chung là cháu Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020; con chung còn nhỏ hiện đang ở cùng chị Loan và phát triển bình thường. Để tránh xáo trộn cuộc sống cũng như tâm lý của con chung sau khi bố mẹ ly hôn nên việc giao con chung cho chị Loan trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của đương sự, phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 81, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Do chị Loan và anh Khoa không đề nghị về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, anh Khoa có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Chị Loan, Anh Khoa có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Loan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Loan được ly hôn anh Tống Bá Khoa

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Loan trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Tống Linh Đan, sinh ngày 31/7/2020.

Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

Sau khi ly hôn anh Khoa có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.

Chị Loan và anh Khoa có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Loan chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005109 ngày 30/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Phạm Thị Loan đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ