- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHạm Văn Đô - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2025/HS-ST Ngày 20-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hải Phòng đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2002 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị P; có vợ là Lò Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ từ ngày 10/7/2025, đến ngày 17/7/2025 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/7/2025, tại khu vực trước cửa nhà số 33/32 xóm Trung, phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng, Công an phường Gia Viên kiểm tra bắt quả tang Phạm Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gấp nhỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím có gắn sim số 0878826776.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Đ không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Xét nghiệm nước tiểu ngày 10/7/2025 của Phạm Văn Đ cho kết quả dương tính với chất ma túy Ketamine.
Kết luận giám định số 449/KL-KTHS ngày 15/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Văn Đ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,60 gam, loại Ketamine.
Kiểm tra điện thoại của Phạm Văn Đ không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra, Phạm Văn Đ khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 04/7/2025, tại khu vực Tổ dân phố X, phường H, thành phố Hải Phòng, Đ gặp và mua 1.000.000 đồng ma túy Ketamine của một người đàn ông không quen biết được 01 gói Ketamine (gói bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng). Đ mang gói ma túy về nhà cất giấu để khi nào bản thân có nhu cầu thì sử dụng. Khoảng 00 giờ ngày 10/7/2025, Đ giấu gói ma túy trên trong túi quần bên phải đang mặc rồi thuê taxi đi đến xóm Trung, phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng để tìm đến nhà trọ của bạn xã hội tên “Trinh”. Xe taxi chở Đ đến đầu ngõ số 32 xóm Trung thì Đ xuống xe đi bộ, khi Đ đi đến khu vực trước cửa nhà số 33/32 xóm Trung, phường Gia Viên thì bị lực lượng Công an phường Gia Viên nghi vấn, kiểm tra. Đ sợ hãi nên lấy gói Ketamine ra vất xuống đất cạnh vị trí Đ đứng thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ, đưa Đ về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Về kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 10/7/2025 của Đ dương tính với ma túy Ketamine, Đ khai trước đó Đ có mua ma túy Ketamine về tự sử dụng nhưng không nhớ rõ về thời gian sử dụng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- 01 bì giấy dấu niêm phong số 449MT/PC09 bên trong chứa 0,33 gam Ketamine hoàn lại sau giám định; 01 bì giấy dấu niêm phong số 449MT-A/PC09 bên trong chứa 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
- Đối với 01 điện thoại Iphone 14 promax, màu tím, có gắn sim số 0878826776 của Phạm Văn Đ không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho bà Trần Thị Phòng (là mẹ của bị can) để quản lý.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSND ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hải Phòng truy tố Phạm Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy dấu niêm phong số 449MT/PC09 bên trong chứa 0,33 gam Ketamine hoàn lại sau giám định; Sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được niêm phong trong bì giấy số 449MT-A/PC09. Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/7/2025, Phạm Văn Đ bị Công an phường Gia Viên bắt qủa tang khi đang cất giữ trái phép ma túy Ketamine tại khu vực trước cửa nhà số 33, ngõ 32 xóm Trung, phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Kết luận giám định số 449/KL-KTHS ngày 15/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Văn Đ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,60 gam, loại Ketamine. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy dấu niêm phong số 449MT/PC09 bên trong chứa 0,33 gam Ketamine hoàn lại sau giám định; Sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được niêm phong trong bì giấy số 449MT-A/PC09.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Văm Đ, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ, nên chưa có căn cứ xử lý. Đối với việc Phạm Văn Đ có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với Ketamine và khai nhận trước đó có tự sử dụng ma túy, do Đ không khai nhận được cụ thể về việc sử dụng ma túy trước đó (ma túy mua của ai, sử dụng cụ thể vào thời gian, địa điểm nào ...) nên không có căn cứ xem xét tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 10/7/2025.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy dấu niêm phong số 449MT/PC09 bên trong chứa 0,33 gam Ketamine hoàn lại sau giám định; Sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được niêm phong trong bì giấy số 449MT-A/PC09 sau giám định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Phạm Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND Khu vực 3 – Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Công an TP Hải Phòng;
- CQCSĐT Công an TP Hải Phòng;
- Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng;
- THADS thành phố Hải Phòng;
- Trại tạm giam số 1 Công an TP Hải Phòng;
- TAND thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Thu Phương
- PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Ngô Quyền; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Ngô Quyền; - CQĐT Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan THA Hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |