vanban.org

Bản án 100/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 13/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn E phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn E 02 (hai) năm tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 05/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn E phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn E phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST
Ngày 13-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hứa Văn Trung

Bà Nguyễn Thuý Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Sầm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hương Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn gồm có: Bị cáo, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ đối với vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nông Văn E (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/5/2001 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn S, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn L và bà Lý Thị S; chưa có vợ, con; tiền án: Không có; tiền sự: có 04 tiền sự gồm:

+ Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, ngày 05/7/2021 của Chủ tịch UBND xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 06/10/2021 chấp hành xong. Tuy nhiên ngày 28/6/2022 Nông Văn E lại bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định số 26/2022/QĐ-TA đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc (Quyết định này tính là tái phạm khi Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc năm 2022) nên chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính; chưa được xoá tiền sự;

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC, ngày 10/01/2022 của UBND xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phạt tiền 2.500.000đồng đối với Nông Văn E về hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, Nông Văn E chưa nộp khoản tiền phạt này; chưa được xoá tiền sự;

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 174/QĐ-XPHC, ngày 18/02/2022 của UBND xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, phạt tiền 4.000.000đồng đối với Nông Văn E về hành vi hủy hoại tài sản của cá nhân, Nông Văn E chưa nộp khoản tiền phạt này; chưa được xoá tiền sự;

+ Quyết định số 26/2022/QĐ-TA đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc, ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng đối với Nông Văn E do có hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 07/5/2024 mới chấp hành xong Quyết định này; chưa được xoá tiền sự;

Nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị xử lý vi phạm hành chính (04 lần, chưa được xoá), chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/9/2024, tạm giam từ ngày 11/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Phạm Khắc T; sinh năm 1955. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 15 phút ngày 05/9/2024, tổ công tác Phòng An ninh điều tra, Công an tỉnh L phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khối F, thị trấn C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn phạm tội. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Nông Văn E, sinh năm 2001, hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần đằng sau bên phải đang mặc của Nông Văn E có 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có 01 (một) túi nilon trong suốt đựng các cục chất bột màu trắng và 01 (một) gói giấy màu vàng, bên trong đựng các cục chất bột màu trắng. Nông Văn E khai nhận các cục chất bột màu trắng trong túi nilon và trong gói giấy màu vàng đều là chất ma túy Heroin. Tổ công tác đã tiến hành đưa đối tượng cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn để lập biên bản theo quy định của pháp luật. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có 01 (một) túi nilon trong suốt đựng các cục chất bột màu trắng và 01 (một) gói giấy màu vàng, bên trong đựng các cục chất bột màu trắng.

Tại cơ quan điều tra, bị can Nông Văn E khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy Heroin từ năm 2018. Khoảng 21 giờ 00 ngày 04/9/2024, Nông Văn E một mình bắt xe khách từ xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến khu vực gần cây xăng T1 thuộc khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn tìm mua ma túy H để sử dụng. Đến nơi Nông Văn E hỏi qua vài người về chỗ mua ma túy, nhưng họ đều bảo không biết. Khoảng một lúc sau thì có một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ), dáng gầy, cao khoảng 1m70, khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang đi bộ đến chỗ Nông Văn E hỏi "Cần gì em ơi?", Nông Văn E bảo "Anh có ma túy không?", người đó trả lời "Có", Nông Văn E bảo "Lấy cho em 2.300.000đồng Heroin". Người đó đồng ý, bảo Nông Văn E đưa tiền rồi đưa lại cho Nông Văn E một túi nilon trong suốt bên trong đựng ma túy Heroin. Mua được ma túy, Nông Văn E đem về chia ra 01 (một) túi nilon và 01 (một) gói giấy với mục đích để bản thân sử dụng. Sau khi chia ma túy xong Nông Văn E đã trích một ít ma túy trong gói giấy màu vàng ra sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 ngày 05/9/2024 Nông Văn E tiếp tục trích một ít ma túy trong gói giấy màu vàng ra sử dụng lần 02. Khoảng 12 giờ 00 ngày 05/9/2024, Nông Văn E mang theo toàn bộ số ma túy còn lại và bắt xe khách ra thị trấn C, huyện C chơi game. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, khi vừa chơi game xong đi ra khỏi quán nét “Sức Khỏe Vàng” thuộc khối F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 954/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Các cục chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma tuý Heroin, có tổng khối lượng 0,801 gam (đã trừ bì).

Tại Bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn E về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và không thay đổi, bổ sung lời khai. Bị cáo thừa nhận việc mua ma tuý về sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn E phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn E từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ “QUẢ TANG NÔNG VĂN E" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) túi nilon (cũ) đựng tổng cộng 0,743 gam ma tuý Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói (cũ).

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do bị cáo Nông Văn E là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người chứng kiến ông Phạm Khắc T vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ xác định: Khoảng 17h00 ngày 05/9/2024, Nông Văn E bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ 0,801 gam ma tuý Heroin với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nông Văn E đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, hành vi đó cũng là nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng do nghiện ma tuý bị cáo đã phạm tội.

Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Văn E không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền sự đều chưa được xoá. Ngoài ra, cùng ngày 11/9/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L ra Quyết định khởi tố bị can số 109/QĐ-ANĐT đối với Nông Văn E về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép, hiện đang điều tra theo quy định. Như vậy xác định bị cáo là người có nhân thân xấu, không chấp hành tốt các quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội nhằm răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...’’. Tuy nhiên trong biên bản xác minh về tài sản đối với bị cáo Nông Văn E ngày 03/10/2024 thể hiện bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị, không đứng tên giấy tờ sở hữu đất đai. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực khu vực cây xăng T1 thuộc khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì có chữ “QUẢ TANG NÔNG VĂN E" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) túi nilon (cũ) đựng tổng cộng 0,743 gam ma tuý Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói (cũ), là chất cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nông Văn E là người bị kết án lẽ ra phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; có yêu cầu được miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn E phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn E 02 (hai) năm tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 05/9/2024.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo Nông Văn E.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ “QUẢ TANG NÔNG VĂN E" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) túi nilon (cũ) đựng tổng cộng 0,743 gam ma tuý Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết)

(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Nông Văn E được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ