vanban.org

Bản án 100/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 13/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30-12-2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Xuân H, huyện Ninh H, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST
Ngày: 30-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Tấn Tiên;

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Danh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu B, sinh ngày 25-12-1993, tại: tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: Thôn Phước N2, xã Xuân H, huyện Ninh H, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bà Ni; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Thành Thị T; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 23-9-2024, tạm giam từ ngày 02-10-2024 cho đến nay. (có mặt)

Bị hại: Anh Lâm Trần Đại L (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Chị Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp 3, xã Bến C, Huyện Dương Minh C, tỉnh Tây Ninh, là vợ của bị hại. (vắng mặt)

- Bà Lâm Kim C, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp 3, xã Bến C, Huyện Dương Minh C, tỉnh Tây Ninh, là mẹ của bị hại. (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền của bà Châu: Chị Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp 3, xã Bến C, Huyện Dương Minh C, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thiện N, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp C, xã An T, huyện Bến C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23-9-2024, Nguyễn Hữu B điều khiển xe ôtô tải biển số 70F-003.59 chở anh Nguyễn Phú L đi từ xã An T, huyện Bến C, tỉnh Tây Ninh đến xã Bến C, Huyện Dương Minh C để nhận chở gà. Đến khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường nhựa hướng từ xã Lộc Ninh đến xã Bến C thuộc ấp Lộc H, xã Lộc N, huyện Dương Minh C, do thấy phía trước có xe môtô đang di chuyển bên phải cùng chiều nên B điều khiển xe lấn qua phần đường bên trái để vượt qua nhưng chưa vượt thì va chạm với xe môtô biển số 70C1-167.78 do anh Lâm Trần Đại L điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại; Hậu quả làm anh L bị thương nặng, sau đó tử vong.

Quá trình điều tra, B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đến Công an đầu thú sau khi gây tai nạn; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; từng tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Kết luận giám định tử thi số 1908 ngày 03-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Lâm Trần Đại L là do đa chấn thương nặng.

Kết luận giám định số 1915 ngày 04/10/2024 và số 1916 ngày 14-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu Nguyễn Hữu B không có nồng độ cồn trong máu và không tìm thấy chất ma túy. Mẫu máu ghi thu của Lâm Trần Đại L có nồng độ cồn trong máu là 245,445mg/100ml máu và không tìm thấy chất ma túy.

Về thu giữ và xử lý vật chứng: 01 Giấy phép lái xe số 790175309379, hạng C, tên Nguyễn Hữu B, cấp ngày 10-11-2022 (bản gốc).

Về trách nhiệm dân sự: B và bà Phan Thiện N là chủ xe ôtô đã bồi thường xe môtô bị hư hỏng và tiền mai táng cho bà Trần Thị Tuyết H là người đại diện hợp pháp của anh L với tổng số tiền 150.000.000 đồng nên bà Hồng không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà N không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ôtô bị hư hỏng.

* Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác được áp dụng:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Hữu B được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện B không có sở hữu tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.

Tại Cáo trạng số 102/CT-VKSDMC ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C tên Nguyễn Hữu B.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 23-9-2024, tại đoạn đường thuộc ấp Lộc H, xã Lộc N, Huyện Dương Minh C, Nguyễn Hữu B điều khiển xe ôtô tải biển số 70F-003.59 vượt không đảm bảo toàn nên chạm vào xe môtô biển số 70C1-167.78 do anh Lâm Trần Đại L điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại, hậu quả làm anh L chết do đa chấn thương. Hành vi của Nguyễn Hữu B là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác, xâm phạm an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định hành vi của Nguyễn Hữu B thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, khi điều khiển xe ô tô thiếu chú ý quan sát khi tránh vượt dẫn đến va chạm gây chết người; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng chất kích thích, rượu, bia; sau khi gây tai nạn bị cáo đã đến Công an trình báo đồng thời cùng chủ sở hữu xe ô tô bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại; bị cáo là người dân tộc thiểu số, đã tham gia nghĩa vụ quân sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, ngay sau khi gây tai nạn bị cáo đến công an xã để đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe số 790175309379, hạng C, tên Nguyễn Hữu B, cấp ngày 10-11-2022 (bản gốc).

Về trách nhiệm dân sự: B và chị Phan Thiện N là chủ xe ôtô đã bồi thường xe môtô bị hư hỏng và tiền mai táng cho chị Trần Thị Tuyết H là người đại diện hợp pháp của anh L với tổng số tiền 150.000.000 đồng nên chị Hồng không yêu cầu bồi thường gì thêm nên ghi nhận. Ghi nhận chị N không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ôtô bị hư hỏng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30-12-2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Xuân H, huyện Ninh H, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Biện pháp tư pháp:

* Trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận chị Trần Thị Tuyết H là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường là 150.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ghi nhận chị Phan Thiện N không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ôtô bị hư hỏng.

* Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe số 790175309379, hạng C, tên Nguyễn Hữu B, cấp ngày 10-11-2022 (bản gốc).

(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-11-2024)

3. Án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Hữu B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân xã (phường), nơi cư trú.

Cỡ chữ