- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Lò Văn Muôn, Lò Văn Lâm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 09 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên
Bà Lò Thị Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Xuân Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Ông Lưu Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/HSST ngày 08 tháng 3 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn M (Tên gọi khác: Không có); Sinh năm: 1958; Nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản M, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H (đã chết) và con bà Lò Thị Ó; bị cáo có vợ là Lò Thị I và có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân Thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lò Văn L (Tên gọi khác: Không có); Sinh năm: 1985; Nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản B, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P và con bà Lò Thị B; bị cáo có vợ là Lò Thị N và có 01 người con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân Thân: Ngày 14/9/2016, bị cáo L bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 16/7/2018, L chấp hành xong Quyết định. Tính đến ngày 19/12/2023 bị cáo được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 19/12/2023, khi M đang ngồi ở bàn uống nước nhà mình tại Bản M, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì Lò Văn L đến hỏi mua 45.000 đồng Heroine, mục đích để sử dụng. M đồng ý nhận tiền cất vào túi quần bên phải đang mặc, rồi lấy gói Heroine trong túi quần ra, dùng tay cấu một ít Heroine, lấy mảnh giấy màu xanh gói lại đưa cho L. Số Heroine còn lại M chia thành 02 gói cất vào trong túi quần bên trái đang mặc, mục đích để bán và sử dụng. Hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày, khi M và L đang ngồi ở bàn uống nước nhà M, thì bị bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Noong Hẹt, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái M đang mặc 01 gói nilon màu trắng và 01 gói bằng mảnh giấy màu trắng đều chứa Heroine có tổng khối lượng 0,44 gam, thu trong túi quần bên phải M đang mặc số tiền 45.000 đồng, tiền bán ma tuý cho L. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của L 01 gói giấy màu xanh, bên trong chứa 0,17 gam Heroine.
Bị cáo M khai số ma túy bị cáo M bán cho bị cáo L và số ma túy mà cơ quan công an thu giữ của bị cáo M có nguồn gốc là do vào khoảng 07 giờ ngày 19/12/2023, Lò Văn M đi bộ từ nhà đến khu vực đường thuộc bản Cha, xã Thanh An, huyện Đ. Tại đây, M gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine, với giá 200.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn L có khối lượng 0,17 gam các cục, bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,11 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn M có khối lượng 0,44 gam các cục, bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,41 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 37/CT-VKSHĐB ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của các bị cáo:
Bị cáo Lò Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 09 tháng tù đến 03 năm 03 tháng tù.
Bị cáo Lò Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 05 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,52 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 45.000 đồng của bị cáo Lò Văn M.
Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Đối với bị cáo Lò Văn M: Sáng ngày 19/12/2023, tại nhà ở của mình thuộc Bản M, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn M đã bán trái phép 0,17 gam Heroine cho Lò Văn L, thu được 45.000 đồng và cất giấu trái phép trên người 0,44 gam Heroine, mục đích để bán và bản thân sử dụng; tổng khối lượng Heroine mà bị cáo M đã bán lẻ và cất giấu là 0,61 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Lò Văn L: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 19/12/2023, khi M và L đang ngồi ở bàn uống nước nhà M thuộc Bản M, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, thì bị bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Noong Hẹt, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của L 01 gói giấy màu xanh, bên trong chứa 0,17 gam Heroine. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữa là do L trước đó mua của bị cáo M với giá 45.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ ... trái phép chất ma túy. Bị cáo M vì lợi nhuận đã cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy; Bị cáo L để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Đ. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân:
Đối với bị cáo M: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Đối với bị cáo L: Ngày 14/9/2016, bị cáo L bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 16/7/2018, L chấp hành xong Quyết định. Tính đến ngày 19/12/2023 bị cáo được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo L có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố và kết luận: Bị cáo Lò Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo M từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù. Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 05 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, các bị cáo không bị oan.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính bị cáo M còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo làm ruộng thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo chỉ có một ngôi nhà bằng gỗ đã cũ, ngoài ra không có tài sản khác có giá trị, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo L còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo làm ruộng thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo chỉ có một ngôi nhà cấp 4, ngoài ra không có tài sản khác có giá trị, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Bị cáo M khai, bị cáo mua ma túy của một người phụ nữ nhưng không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,52 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định), do là vật nhà nước cấm tàng trữ.
Đối với số tiền 45.000 đồng mà cơ quan công an thu giữ của bị cáo M, đây là số tiền mà bị cáo M bán ma túy cho bị cáo L mà có nên cần tịch Thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo đều là cá nhân thuộc hộ nghèo, bị cáo M là người cao tuổi, bị cáo L sống ở bản có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn M 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 19/12/2023).
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 19/12/2023).
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,52 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định).
Tịch Thu sung ngân sách nhà nước 45.000 (bốn mươi lăm nghìn) đồng của bị cáo Lò Văn M, gồm 03 (ba) tờ tiền.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/3/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/4/2024).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp; - VKSND huyện Đ; - Bộ phận HSNV, CA huyện Đ; - Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Thị Bằng |