vanban.org

Bản án 100/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận cho anh Trương Văn H được ly hôn với chị Trương Thị Cẩm B1.

Về con chung: Giao Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009 cho anh Trương Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị B1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Văn H - Phạm Thị Cẩm B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận cho anh Trương Văn H được ly hôn với chị Trương Thị Cẩm B1.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2024
“V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 167/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn, yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/9/2024 giữa:

- Nguyên đơn: anh Trương Văn H, sinh năm 1987 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện G, Kiên Giang

- Bị đơn: chị Phạm Thị Cẩm B, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đề ngày 31/5/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trương Văn H trình bày: Năm 2007 anh H và chị Phạm Thị Cẩm B có quen biết nhau và tìm hiểu nhau được ba tháng thì anh chị quyết định kết hôn với nhau, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2008 và anh chị có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G ngày 10/01/2011. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau và dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và chị B đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống ly thân với anh H từ năm 2013 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh H và chị bào cũng không có gặp nhau nên không thể hàn gắn hôn nhân lại được nữa; đồng thời anh H đã không còn tình cảm yêu thương dành cho chị B nên anh H quyết định ly hôn với chị B.

Quá trình sống chung với chị B, vợ chồng anh có một người con chung tên Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009, do anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung từ khi vợ chồng ly thân năm 2013 đến nay. Về tài sản chung và nợ chung anh H xác định là không có.

Tại phiên tòa, anh Trương Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân cho anh H được được ly hôn với chị Phạm Thị Cẩm B. Về con chung anh H yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009 và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn chị Phạm Thị Cẩm B không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng chị B không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của chị.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp nhận cho anh Trương Văn H được ly hôn với chị Phạm Thị Cẩm B. Về con chung: giao Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung anh H không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: anh Trương Văn H yêu cầu ly hôn với chị Phạm Thị Cẩm B và yêu cầu nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “ly hôn, yêu cầu nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Phạm Thị Cẩm B với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng chị B vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về hôn nhân: anh Trương Văn H và chị Phạm Thị Cẩm B quen biết, tìm hiểu nhau được ba tháng thì anh chị quyết định kết hôn với nhau, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2008 và anh chị có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang số 05 ngày 10/01/2011 theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của anh H được ly hôn với chị B vì lý do hai người không hợp nhau nên anh chị thường xuyên cãi nhau và dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và chị B đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống ly thân với anh H từ năm 2013 đến nay. Đối với chị B, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng chị B đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa, anh H khai rõ trong thời gian ly thân, anh H và chị bào cũng không có gặp nhau nên không thể hàn gắn hôn nhân được nữa; đồng thời anh H đã không còn tình cảm yêu thương dành cho chị B nên anh H quyết định ly hôn với chị B. HĐXX thấy rằng, sau thời gian chung sống với nhau giữa anh H, chị B mới phát sinh sự bất đồng quan điểm dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và hai người không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau, vợ chồng đã ly thân nhau từ 2013 đến nay nên làm cho tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H là phù hợp.

Về con chung: anh H khai vợ chồng anh có một người con chung tên Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009. Anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian ly thân từ năm 2013 đến nay, anh H là người trực tiếp nuôi con Trương Thị Cẩm T và cháu T cũng được phát triển bình thường về mọi mặt, hiện nay cháu T đang học lớp 10. Đồng thời, cháu Trương Thị Cẩm T cũng có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với cha nên Hội đồng xét xử giao Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009 cho anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế, đúng với nguyện vọng của cháu T, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: anh H xác định vợ chồng anh không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Đối với bị đơn chị Phạm Thị Cẩm B Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy chị B thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ Điều 175, Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị B theo quy định nhưng chị B vẫn không có mặt không có lý do và chị B cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh H cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của chị.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với nội dung vụ án là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: bằng 300.000 đồng, anh Trương Văn H phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: chấp nhận cho anh Trương Văn H được ly hôn với chị Trương Thị Cẩm B1.

2. Về con chung: Giao Trương Thị Cẩm T, sinh ngày 15/2/2009 cho anh Trương Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị B1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

4. Về án phí HNST: bằng 300.000đồng anh Trương Văn H phải nộp do chị có yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp trước đây là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006021 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Báo cho anh H được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/9/2024. Báo cho chị B1 biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Tm/. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

ThÈm ph¸n-chñ täa phiªn tßa N¬i nhËn : -Tßa ¸n tØnh; -VKS huyÖn;

(Đã ký) -Chi côc THADS huyện; -C¸c ® ¬ng sù; -L u hå s¬.

Danh Thị Kiều Oanh

Cỡ chữ