vanban.org

Bản án 100/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của của ông Trịnh Minh K. Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trình Minh K số tiền là 200.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trình Minh K số tiền là 200.000.000 đồng."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của của ông Trịnh Minh K. Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trình Minh K số tiền là 200.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/DS–ST
Ngày 04/7/2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài
sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ–TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Xuân Tùng.

2. Ông Lê Khắc Hiệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2024/TLST–DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐST–DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trịnh Minh K, sinh năm 1940; Địa chỉ: Tổ 1, kp 3, thị trấn TM, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Lệ V, sinh năm 1974; Địa chỉ: kp 3, thị trấn TM, huyện HT, tỉnh BTh. Chị V có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp THB, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 25/5/2023, ông Trịnh Minh K có cho chị Nguyễn Thị H vay số tiền là 200.000.000 đồng. Khi vay chị H có viết biên nhận có nội dung vay của ông K số tiền 200.000.000 đồng, mục đích chị H vay tiền là để nuôi tôm công nghiệp, chị H cam kết ngày 20/12/2023 sẽ trả cho ông K 130.000.000 đồng, số còn lại 70.000.000 đồng sẽ trả vào ngày 28/12/2023.

Nhưng từ vay tiền đến nay chị H không trả tiền cho ông K, hiện ông K đang bị bệnh không có tiền điều trị, ông K đã nhiều lần liên lạc với chị H nhưng chị H vẫn không trả tiền cho ông K.

Ông K yêu cầu Toà án giải quyết, buộc chị H phải có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền là 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Bị đơn chị Nguyễn Thị H cư trú ấp THB, xã TH, huyện p, tỉnh Bến Tre. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án án tống đạt các văn bản tố tụng đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Về nội dung vụ án: Ông K yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền là 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Xét thấy: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản gốc “Giấy mượn tiền” ngày 25/5/2023 để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị H nhiều lần trực tiếp ký nhận các thông báo, quyết định của Toà án nhưng đều vắng mặt không có lý do nên bị đơn chị Nguyễn Thị H đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông K, xét thấy: Hợp đồng vay tài sản giữa ông K và chị H được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc nên được xem là hợp đồng hợp pháp. Do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết. Quá trình thực hiện hợp đồng chị H đã vi phạm hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận làm phát sinh tranh chấp. Lẽ đó yêu cầu khởi kiện của chị H là có căn cứ nên cần buộc chị H có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền là 200.000.000 đồng phù hợp. Do ông K không yêu cầu chị H phải trả lãi nên không xem xét giải quyết.

Do yêu cầu khởi kiện của ông K được chấp nhận nên chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm b, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 357 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của của ông Trịnh Minh K. Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Trình Minh K số tiền là 200.000.000 đồng. Do ông K không yêu cầu chị H phải trả lãi nên không xem xét giải quyết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp là 10.000.000 đồng.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ