- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106; 136; 329; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:100/2023/HS-ST Ngày: 14 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xu n Luy n và ông Lưu Văn Ninh.
Thư ký phiên toà: ông Đặng Trần Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nh n d n huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
- Phạm Văn N - sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn P G, xã T N, huy n T L, Hà Nam; nghề nghi p: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; d n tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Đặc điểm nhân th n: Ngày 18/10/2018, TAND huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 26/10/2019. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/9/2023 đến ngày 20/9/2023 chuyển tạm giam, hi n đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người chứng kiến: ông Đinh Đức T2 - sinh năm 1973; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/9/2023, lực lượng Công an xã Thanh Nguyên, huy n Thanh Liêm làm nhi m vụ tuần tra, kiểm soát tại tuyến đường ĐH02 thuộc địa phận thôn Trung Hạ Đại Vượng, xã Thanh Nguyên, huy n Thanh Liêm thì thấy Phạm Văn N đang đi bộ có biểu hi n nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hi n N đang cầm ở tay phải 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, N khai nhận là ma túy Heroine vừa mua với mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng đồ vật gồm 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hi u QT01; 01 xi lanh loại 03ml/cc và 01 lọ nước cất Novocain 3% đều chưa qua sử dụng. Sau đó Công an xã Thanh Nguyên đã chuyển các tài li u ban đầu, đối tượng, vật chứng đến cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày 14/9/2023, cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn N tại thôn P G, xã T N, huy n T L, nhưng không thu giữ đồ vật, tài li u có liên quan đến vụ án; đồng thời ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định đối với mẫu vật chứng đã thu giữ niêm phong ký hi u QT01 để xác định loại, khối lượng chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 638/KL-KTHS ngày 19/9/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,162g (Không phẩy một trăm sáu mươi hai gam) loại: Heroine (Heroin)”.
Quá trình điều tra xác định: khoảng 12 giờ ngày 14/9/2023, khi đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Văn N đi bộ đến địa bàn huy n Ý Yên, tỉnh Nam Định để tìm mua ma túy. Trên đường đi N rẽ vào hi u thuốc ven đường mua 01 xi lanh loại 03ml/cc và 01 lọ nước cất Novocain 3%, cất vào túi quần trước bên phải rồi tiếp tục đi bộ đến khu vực xóm Mới, xã Yên Thọ, huy n Ý Yên, tỉnh Nam Định thì gặp một nam thanh niên đang ngồi ở ven đường, nhìn vẻ bên ngoài, N nghĩ là người nghi n ma túy nên N đến lại gần, hỏi “Anh có hàng không để em trăm rưỡi” thì người đó bảo đưa tiền, N đưa cho người này 150.000 đồng, người thanh niên cầm tiền rồi đưa lại cho N 01 gói giấy bạc màu trắng. N cầm kiểm tra biết là ma túy cần mua nên gói lại rồi cầm ở tay phải, đi bộ quay về đến địa bàn thôn Trung Hạ Đại Vượng, xã Thanh Nguyên, huy n Thanh Liêm thì bị lực lượng Công an phát hi n bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số 100/CT-VKS-MT ngày 23 tháng 10 năm 2023, Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Liêm đã truy tố Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi ph n tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự cũng như nh n th n của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: - xử phạt Phạm Văn N từ 24 đến 27 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định cùng bao gói, 01 xi lanh loại 03ml/cc và 01 lọ nước cất Novocain 3%.
- Bị cáo Phạm Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã mô tả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/9/2023, lực lượng Công an xã Thanh Nguyên, huy n Thanh Liêm làm nhi m vụ tuần tra, kiểm soát tại tuyến đường ĐH02 thuộc địa phận thôn Trung Hạ Đại Vượng, xã Thanh Nguyên, huy n Thanh Liêm đã phát hi n bắt quả tang Phạm Văn N đang cất giữ trái phép 0,162 gam Heroine (Heroin) ở tay phải với mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Liêm là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp x m phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, g y ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản th n bị cáo có đủ năng lực trách nhi m hình sự, Heroine mà bị cáo tàng trữ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nh n th n bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự:
- Về nh n th n: bị cáo có nh n th n xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nh n th n và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công d n lương thi n và có tác dụng phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hi n đang bị tạm giam nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đối với số Heroine hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, sử dụng; 01 bơm tiêm kim loại 03ml/cc chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất Novocian chưa qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nay sẽ căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ.
Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy và người đã bán ma túy cho Phạm Văn N: quá trình điều tra, tài li u có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để xác định nguồn gốc số Heroine và đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Văn N để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí, quyền kháng cáo: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106; 136; 329; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/9/2023.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 638/KTHS mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả QT01”, 01 bơm tiêm kim loại 03ml/cc và 01 lọ nước cất Novocian (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án D n sự huy n Thanh Liêm).
3. Án phí: bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huy n Thanh Liêm; - Cơ quan CSĐT Công an huy n Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huy n Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin đi n tử của Tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |