vanban.org

Bản án 100/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo L 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc L bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS – ST
Ngày: 17-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Xuân Thường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lệ

Ông Trần Đình Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Nam – Kiểm sát viên. Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST – HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Ngọc L, tên gọi khác: M; giới tính: N; sinh năm: 1986; tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 12/12. Có cha là ông Lê Ngọc Ê, sinh năm 1962 (Đã chết) và mẹ là bà Lê Thị H, sinh năm 1964. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có vợ là Phạm Thị Khánh N1, sinh năm 1988 và 01 con, sinh năm 2007. (Có mặt tại phiên tòa).Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 15/02/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/02/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Ngọc L là người nghiện ma túy từ khoảng tháng 2 năm 2023. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 12/2/2023 L liên hệ với một người đàn ông tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000đ (Một triệu đồng) ma túy đá để sử dụng. Sau đó vào khoảng 08 giờ ngày 15/2/2023, L tiếp tục liên hệ với P để mua 05 gói ma túy đá với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), P đồng ý và hẹn địa điểm là khu vực ngã ba M thuộc phường M, thị xã P để giao dịch mua bán ma tuý. Sau khi mua được ma túy, L đến khu vực chòi gỗ thuộc tổ A, thôn T, xã C để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, Công an xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ 05 (Năm) gói nylon hàn kín, bên trong chất kết tinh không màu trong suốt cất giấu trong túi quần phía sau, bên phải của L. L khai nhận đây là gói ma túy L cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của L 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, đã qua sử dụng. Tại Cơ quan CSĐT CCông an thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Lê Ngọc L đã thừa nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 81/KL – KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh B kết luận: 1. Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an xã C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bên trong có 05 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (Mẫu A) có khối lượng 1, 7414 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (BL: 49).

Việc xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong đề số: 81 ngày 08 tháng 03 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen đã qua sử dụng chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội: Căn cứ vào diễn biến phiên tòa, xem xét những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như lời khai nhận tội của bị cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, khẳng định Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 23/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Lê Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.Sau khi phân tích hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Lê Ngọc L từ 01 năm đến 1 năm 06 tháng tù.- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề số: 81 ngày 08 tháng 03 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là vật Ngà nước cấm lưu hành. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Sam sung bị cáo đã sử dụng để liên hệ mua trái phép chất ma túy. - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Bị cáo Lê Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố, bị cáo không ý kiến về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, bị cáo không tranh luận và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:[1] Về tố tụng: Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các Điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh và điều luật truy tố:Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 15/02/2023 tại tổ A, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bị cáo Lê Ngọc L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methaphetamine khối lượng 0,1579 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.Hành vi của bị cáo Lê Ngọc L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân: [3.1].Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng.[3.2]. Về tình tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Ngọc L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Do đó, cần áp dụng mức án phù hợp với hành vi bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề số: 81 ngày 08 tháng 03 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen – bạc, số Imel 1:354424/06/431255/6, số Imel 2: 354425/06/431255/4, máy đã cũ, bể màn hình và không hoạt động, vì liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Những vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên P bán ma túy cho bị cáo L hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào xác minh và làm rõ được, Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật là phù hợp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo L 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong đề số 81 ngày 08 tháng 03 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen – bạc, số Imel 1:354424/06/431255/6, số Imel 2: 354425/06/431255/4, máy đã cũ, bể màn hình và không hoạt động.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 93/BB-CCTHADS ngày 05 tháng 6 năm 2023)

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Ngọc L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ