vanban.org

Bản án 100/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 21/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "án Đỗ Thị Tám - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
`
Toµ ¸n nh©n d©n
THÀNH PHỐ CẨM P
TỈNH QUẢNG N
────────

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS – ST
Ngày 21 – 8 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị L

Các hội thẩm nhân dân:

1- Ông Trần Ngọc Ch

2- Bà Bùi Thị Ng

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Th – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N tham gia phiên tòa: ông Trần Duy Kh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị T (tên gọi khác: không); Giới tính: nữ; Sinh ngày 26/5/1975 tại Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: tổ 4, khu Hai Giếng 2, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 6/12; Con ông: Đỗ Như Nở (đã chết); con bà: Đỗ Thị Chuyên (đã chết); Có chồng Nguyễn Văn Minh, có 03 con: lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt ngày 05/4/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng N, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Đức L (sinh ngày 04/11/2005); Nơi thường trú: tổ 65, khu Diêm Thủy, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt).

Người chứng kiến:

- Anh Đặng Vũ Lâm P (sinh năm 2000); Nơi thường trú: tổ 5, khu Tân Lập 4, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Lê Văn K (sinh năm 1958); Nơi thường trú: tổ 3, khu 2B, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào thời gian cuối tháng 3/2023, thông qua mạng xã hội Facebook T biết người đàn ông (không rõ lai lịch) bán ma túy dạng điếu thuốc lá Chill, T đã liên lạc và hỏi mua của anh ta 18 điếu thuốc lá Chill với giá 750.000đồng, rối nhận ma túy và trả tiền bằng hình thức chuyển đến qua xe khách (T không nhớ đặc điểm xe ). T cho 18 điếu thuốc lá Chill vào một hộp giấy để trên đệm kê giữa nhà mình với mục đích để bán với giá 70.000đồng/điếu cho khách đến hỏi mua. Vào khoảng 15 giờ 45 phút 5/4/2023, T nhận được điện thoại của Nguyễn Đức L hỏi mua 03 điều thuốc lá Chill với giá 200.000đồng để sử dụng. 16 giờ cùng ngày L đến nhà T để giao dịch mua ma túy. T lấy 3 điếu thuốc lá Chill cho vào một túi nilon rồi đi ra trước cửa nhà đưa cho L, L đưa cho T 500.000đồng, T trả lại L 300.000đồng tiền thừa, vừa giao dịch xong thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng:

-Tại tay Pi của T: 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng lắp sim 0902446098 (là điện thoại liên lạc mua bán ma túy với L), 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đồng (là tờ tiền L mua ma túy).

Khám xét chỗ ở khẩn cấp của T thu giữ trong hộp giấy để trên đệm kê giữa phòng: 200.000đồng (tiền riêng của bị cáo); Một túi nilon kích thước (7 x11,8)cm bên trong có 03 điếu vỏ màu đen, trong mỗi điếu đều chứa thực vật khô; Một túi nilon kích thước (7 x11,8)cm bên trong có 06 điếu vỏ màu nâu và 06 điếu vỏ màu trắng, trong mỗi điếu đều chứa thực vật khô.

-Tại tay trái của L 01 túi nilon kích thước (7 x11,8)cm bên trong có 03 điếu thuốc đều chứa thực vật khô, 01 điện thoại Iphone màu vàng lắp sim số 0343878606 và 300.000đồng (là tiền thừa do T trả lại sau khi bán ma túy cho L).

Tại Bản kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Thảo mộc khô vụn trong 03 điều thuốc cuộn (ký hiệu mẫu I) thu giữ của Nguyễn Đức L có tổng khối lượng 3,01gam tìm thấy chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA. Thảo mộc khô vụn trong 15 điều thuốc cuộn (ký hiệu mẫu 2) thu giữ của Đỗ Thị T có tổng khối lượng 15,09gam tìm thấy chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định bổ sung hàm lượng ma túy mẫu vật cần giám định. Ngày 23/5/2023 Viện khoa học Kỹ thuật Hình sợ -Bộ Công an có công văn v/v từ chối giám định với lý do không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA.

Nguyễn Đức L cùng những người chứng kiến anh Đặng Vũ Lâm P và Lê Văn K có lời khai nhận phù hợp với nội dung vụ án trên.

Về số tiền 300.000đồng do T trả lại khi L mua ma túy của T, Nguyễn Đức L có quan điểm không lấy lại, Đỗ Thị T khai số tiền 200,000 đồng Công an thu giữ là do lao động mà có, bị cáo cũng không có yêu cầu nhận lại.

Đối với hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức L chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố Cẩm P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và trả lại cho Nguyễn Đức L điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng lắp sim số 0343878606.

Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

*Bản Cáo trạng số 85/CT-VKSCP ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố Đỗ Thị T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt Đỗ Thị T từ 24 tháng tù – 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/4/2023. Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1000.000đồng và 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng lắp sim 0902446098.

*Bị cáo không có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P và bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 05/4/2023, Biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định số giám định số 320/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đức L cùng người chứng kiến anh Đặng Vũ Lâm P, ông Lê Văn K và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: hồi 16 giờ 00 phút ngày 05/4/2023, tại tổ 4, khu Hai Giếng 2, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, Đỗ Thị T có hành vi bán trái phép 3,01gam chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA cho Nguyễn Đức L với giá 200.000 đồng để sử dụng, thì bị Công an thành phố Cẩm P bắt quả tang. Ngoài ra, bị cáo còn tàng trữ trái phép 15,09 gam ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA, nhằm mục đích để bán.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.....

Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy. Nhưng vì hám lời, bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần Pi xử phạt bị cáo thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng; không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chồng bị tật nguyền, do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định trong một P bì niêm P số 320/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng kèm 01 chiếc sim thu giữ của bị cáo T, là công cụ dùng vào việc phạm tội.

-Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1.000.000đồng (trong đó có 500.000đồng là tiền của bị cáo do phạm tội mà có và 200.000đồng tiền riêng của bị cáo, 300.000đồng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đức L, do cả bị cáo và anh L không có yêu cầu nhận lại), theo biên bản giao nhận tài sản số 41/2023/BBGN –CQCSĐTCATPCP ngày 10/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P và Kho bạc Nhà nước Cẩm P.

Bị cáo Pi nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 – Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng của Nguyễn Đức L chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố Cẩm P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đối với người bán trái phép chất ma túy cho T, do không có thông tin về lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ để làm rõ, xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; ®iÓm a, b, c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố: bị cáo Đỗ Thị T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt: bị cáo Đỗ Thị T 27 (hai mươi bẩy) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/4/2023.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định trong một P bì niêm P số 320/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng kèm 01 chiếc sim thu giữ của Đỗ Thị T. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1.000.000đồng (theo biên bản giao nhận tài sản số 41/2023/BBGN –CQCSĐTCATPCP ngày 10/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P và Kho bạc Nhà nước Cẩm P). (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 144/BB-THA ngày 31/ 7/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N).

Về án phí: buộc bị cáo Đỗ Thị T Pi nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ