- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Mo Ha - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HS-ST Ngày: 18-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Ông Trần Minh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: MHMNS. Sinh năm 1985 tại tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: XX Phũm Soài, Châu Phong, Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Nơi ở: YY Khu phố BQ, phường Bình Chuẩn, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Đạo Hồi; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sa L và bà: Nguyễn Thị M; Vợ: Ma Ha Mad D và 02 con (trẻ lớn sinh năm 2005, trẻ nhỏ sinh năm 2023); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/11/2022 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987, địa chỉ: ZZ, phường LT, Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
MHMNS nghiện ma túy đá từ đầu năm 2022, nguồn ma túy MHMNS thường mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực ấp 4 xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/11/2022, do không còn ma túy để sử dụng nên MHMNS điều khiển xe máy biển số 61C1-930.10 đến khu vực căn nhà bỏ hoang thuộc ấp 4 xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn mua 01 tép heroine giá 100.000 đồng và 01 gói ma túy đá giá 200.000 đồng rồi cất giấu trong túi quần bên trái rồi đem về nhà để sử dụng. Khi đến trước bãi đất trống thuộc tổ 16, ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn thì bị lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an xã Xuân Thới Thượng phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần trái của MHMNS 01 đoạn ống hút nhựa có chứa chất bột màu trắng (ký hiệu m1) và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m2).
Tại Bản kết luận giám định số 6338/KL-KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Chất bột màu trắng (ký hiệu m1) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0267g, loại Heroine.
- Tinh thể không màu (mẫu m2) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,3174g, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 (một) gói niêm phong số 1284/22;
+ 01 điện thoại di động Oppo A74 có gắn sim số 0877458983 và 091652177.
+ 01 xe máy biển số 61C1-930.10 có SK: RLHJA391XKY087747, SM: JA39E0944161 qua xác minh thuộc sở hữu của chị Nguyễn Hoàng T. Tháng 3/2020 chị Trâm bán lại cho một người thanh niên không rõ lai lịch với giá 10.000.000 đồng. MHMNS mua chiếc xe trên từ 01 cửa hàng xe gắn máy vào khoảng tháng 12/2021 với giá 13.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 120/CT-VKS-HM ngày 12/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo MHMNS về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo MHMNS từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số vụ 1284/22 bên ngoài gói có dấu vân tay ghi tên MHMNS, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
Đối với 01 ĐTDĐ Oppo A74 màu xanh đen có gắn sim số 0877458983 và 091652177 thu giữ của MHMNS dùng để liên lạc gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe gắn máy biển số 61C1-930.10 (số khung: RLHJA391XKY087747, số máy: JA39E0944161), qua xác minh do chị Nguyễn Hoàng T đứng tên chủ sở hữu. Tháng 3/2020 chị T bán xe và giao toàn bộ giấy tờ xe cho một người thanh niên không rõ lai lịch với giá 10.000.000 đồng. MHMNS khai nhận mua xe này ở cửa hàng xe gắn máy vào khoảng tháng 12/2021 với giá 13.000.000 đồng, khi mua không làm giấy tờ sang tên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng báo xử lý theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo MHMNS nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo MHMNS đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Bị cáo MHMNS thừa nhận bản thân nghiện ma túy, 01 tép heroine (có khối lượng 0,0267g) và 01 gói ma túy đá loại Methamphetamine (có khối lượng 0,3174g) do Công an kiểm tra thu giữ của MHMNS cất giấu trong túi quần bên phải vào ngày 01/11/2022 là của bị cáo mua cất giấu để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo MHMNS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước thống nhất quản lý độc quyền. Mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và tự nhận thức được điều này nhưng xuất phát từ động cơ, mục đích nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước đối với các chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để có giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: không có.
Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không nghề nghiệp, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ 01 (một) gói niêm phong số vụ 1284/22 bên trong là 01 tép heroine (có khối lượng 0,0267g) và 01 gói ma túy đá loại Methamphetamine (có khối lượng 0,3174g), căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ĐTDĐ Oppo A74 màu xanh đen có gắn sim số 0877458983 và 091652177 là tài sản thuộc quyền sở hữu của MHMNS dùng để liên lạc gia đình không liên quan đến việc phạm tội, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe gắn máy biển số 61C1-930.10 (số khung: RLHJA391XKY087747, số máy: JA39E0944161), qua xác minh do chị Nguyễn Hoàng T đứng tên chủ sở hữu. Tháng 3/2020 chị Trâm bán xe và giao toàn bộ giấy tờ xe cho một người thanh niên không rõ lai lịch với giá 10.000.000 đồng. MHMNS khai nhận mua xe này ở cửa hàng xe gắn máy vào khoảng tháng 12/2021 với giá 13.000.000 đồng, khi mua không làm giấy tờ sang tên. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo về việc truy tìm chủ sở hữu xe máy nhưng chưa có người đến làm việc. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng báo để tìm và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe gắn máy biển số 61C1-930.10 (số khung: RLHJA391XKY087747, số máy: JA39E0944161). Nếu quá 06 tháng tính từ ngày thông báo trên báo vẫn không có chủ sở hữu hợp pháp đến xin nhận lại xe thì tịch thu xe sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo MHMNS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/. Về điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo MHMNS 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2022.
3/. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số vụ 1284/22 bên trong là 01 tép heroine (có khối lượng 0,0267g) và 01 gói ma túy đá loại Methamphetamine (có khối lượng 0,3174g).
- Trả lại cho bị cáo MHMNS 01 ĐTDĐ Oppo A74 màu xanh đen có gắn sim số 0877458983 và 091652177.
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng báo để tìm và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe gắn máy biển số 61C1-930.10 (số khung: RLHJA391XKY087747, số máy: JA39E0944161). Nếu quá 06 tháng tính từ ngày thông báo trên báo vẫn không có chủ sở hữu hợp pháp đến xin nhận lại xe thì tịch thu xe sung quỹ Nhà nước.
(Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 103/LNK-HS ngày 28/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2023).
4/. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo MHMNS phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND H.Hóc Môn; - VKSND TP.HCM; - CQĐT Công an H.HM; - Chi cục THADS H.Hóc Môn; - Nhà tạm giữ Công an H.HM; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh |