vanban.org

Bản án 100/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 31/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Đ 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 16- 6- 2023.

Về xử lý vật ch ng: Căn c vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả m u vật sau giám định (theo Biên bản giao nhận vật ch ng số: 06 ngày 03- 10- 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy). Về án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Đ 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 16- 6- 2023.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS-ST
Ngày: 31- 10- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Cận;

Ông Vũ Hùng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cao - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Ngọc Đ; sinh ngày 20- 11- 1983 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Trần Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 07- 01- 2014 bị Tòa án nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù và phạt 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 15- 11- 2015 nhưng chưa nộp phạt 5.000.000 đồng và 170.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22- 6- 2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện G xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi "vi phạm các quy định về vệ sinh nơi công cộng, thu gom, vận chuyển, chôn, lấp, xử lý, thải rác thải sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường; vận chuyển nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường"; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày từ ngày 16- 6- 2023 đến nay; hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 16- 6- 2023, tại khu vực cổng làng T thuộc Xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định, Tổ công tác Công an xã G đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Phạm Ngọc Đ. Quá trình kiểm tra, Phạm Ngọc Đ đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong ch a chất bột dạng cục màu trắng (được Tổ công tác niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M). Phạm Ngọc Đ khai nhận đó là Heroin Đ1 cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Kết luận giám định số 936/KL-KTHS ngày 20- 6- 2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh N xác định: M u bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M, là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,222 gam.

Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 02- 10- 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn c điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Phạm Ngọc Đ từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; căn c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định.

Bị cáo Phạm Ngọc Đ thừa nhận hành vi đã nêu, không tự bào chữa, tranh luận gì, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tới điều kiện hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16- 6- 2023, Phạm Ngọc Đ đã cất giữ trái phép 0,222 gam Heroin để sử dụng cho bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Ngọc Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy là phù hợp và đúng quy định pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính năm 2021. Năm 2014, bị Tòa án nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù và phạt 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn c vào tính chất, m c độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đủ tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản giá trị, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, như quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật ch ng: Số ma túy thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.

Về nguồn gốc số H: Quá trình điều tra không đủ căn c kết luận ai là người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xem xét.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Đ 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 16- 6- 2023.

2. Về xử lý vật ch ng: Căn c vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả m u vật sau giám định (theo Biên bản giao nhận vật ch ng số: 06 ngày 03- 10- 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Về án phí: Căn c vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Ngọc Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Căn c các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Ngọc Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ