- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Hồng M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Hồng M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HS-ST Ngày 07-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thu Trang
Bà Tô Thị Lợi.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Mã Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Tô Hồng M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 02 năm 1987 tại: Huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Thanh B và con bà: Lưu Phương L; vợ: Hoàng Thị Ngọc B1 (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bản án số 27/2019/HSST ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Tô Hồng M 09 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xong hình phạt ngày 04/10/2019 (đã được xóa án tích). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 3352/QĐ/XPVPHC ngày 25/9/2007 của Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Tô Hồng M 300.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đã thi hành xong ngày 26/9/2007 (đã được xóa). Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 540/QĐ-XPHC ngày 23/10/2007 của Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 350.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã thi hành xong ngày 23/10/2007 (đã được xóa). Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/6/2023, tạm giam từ ngày 09/7/2023 đến nay; có mặt.
Người chứng kiến: Anh Lý Văn L1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ ngày 30/6/2023, Tổ công tác đội điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, tại thời điểm kiểm tra, nam thanh niên tự nguyện giao nộp 01 (một) gói nilon bên trong có 01 (một) viên nén màu hồng, trên bề mặt viên nén có ký hiệu chữ WY. Nam thanh niên khai nhận họ và tên Tô Hồng M, sinh năm: 1987, trú tại thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, viên nén màu hồng Tô Hồng M giao nộp là chất ma túy tổng hợp Tô Hồng M mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Tô Hồng M và tang vật về trụ sở để lập biên bản quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 (một) viên nén màu hồng, trên bề mặt viên nén có ký hiệu chữ WY; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Tô Hồng M.
Căn cứ vào lời khai của Tô Hồng M, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tô Hồng M tại thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vật chứng phát hiện thu giữ: 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có 21 (hai mươi mốt) viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên nén đều có chữ WY; 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có 45 (bốn mươi lăm) viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên nén đều có chữ WY; 02 (hai) gói nilon trong suốt, bên trong mỗi gói nilon đều có chứa các cục chất tinh thể màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 744/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “Phong bì ghi chữ QUẢ TANG TÔ HỒNG M: 01 (một) viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,092 gam (đã trừ bì). Phong bì ghi chữ MA TÚY KHÁM XÉT: 66 (sáu mươi sáu) viên nén màu hồng và các cục chất tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 8,605 gam (đã trừ bì)”.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Tô Hồng M khai nhận: Bản thân sử dụng chất ma túy tổng hợp từ đầu năm 2023 cho đến nay. Tần suất sử dụng ma túy một ngày của Tô Hồng M khoảng 03 - 04 viên ma túy “ngựa” và kèm theo ma túy “đá”. Tô Hồng Mạnh thường đến khu vực Bến xe phía B, tỉnh Lạng Sơn mua ma túy của một người đàn ông làm nghề lái xe ôm (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) để sử dụng. Ngày 20/6/2023, Tô Hồng M đi từ nhà ra khu vực Bến xe phía Bắc, tỉnh Lạng Sơn tìm người lái xe ôm trên và hỏi mua 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) tiền ma túy tổng hợp. Người đàn ông đồng ý, cầm tiền rồi lái xe máy đi đâu đó, khoảng 10 phút sau, người lái xe ôm quay lại rồi đưa cho Tô Hồng M 02 (hai) gói nilon trong suốt, bên trong mỗi gói nilon chứa 50 (năm mươi) viên ma túy “ngựa” (tổng 02 gói là 100 viên) và 02 (hai) gói nilon trong suốt bên trong có chứa ma túy “đá”. Sau đó, Tô Hồng M mang ma túy về nhà và cất giấu trong phòng ngủ. Tô Hồng M đã sử dụng hết 33 (ba mươi ba) viên ma túy “ngựa” và một ít ma túy “đá”. Khoảng 09 giờ ngày 30/6/2023, Tô Hồng M mang theo 01 (một) viên ma túy “ngựa” đang đi bộ đến khu vực khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang như đã nêu trên. Tô Hồng M khai nhận mua số ma túy tổng hợp trên mục đích để sử dụng cho bản thân.
Đối với người đàn ông làm nghề lái xe ôm mua ma túy cho bị cáo Tô Hồng M tại khu vực Bến xe P, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Tô Hồng M khai người đàn ông trên khoảng 50 tuổi, dáng người gầy nhưng không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu nào khác, nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
Đối với ngôi nhà Tô Hồng M đang sinh sống tại thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn qua xác minh là nhà của ông Tô Thanh B và bà Lưu Phương L là bố mẹ đẻ của bị cáo Tô Hồng M. Ông Tô Thanh B và bà Lưu Phương L đã chuyển sang sống ở ngôi nhà bên cạnh và giao ngôi nhà trên cho Tô Hồng M tự quản lý. Việc Tô Hồng M tàng trữ ma túy tại nhà gia đình không biết. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với ông Tô Thanh B và bà Lưu Phương L.
Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 96/CT-VKS ngày 03/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Tô Hồng M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Hồng M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tô Hồng M từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ghi chữ "Quả tang Tô Hồng M" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói nilon (cũ) đựng 0,064 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 01 (một) phong bì ghi chữ "Ma túy khám xét" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 04 (bốn) gói nilon (cũ) đựng 7,615 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết). Trả lại cho bị cáo Tô Hồng M 01 (một) căn cước công dân mang tên Tô Hồng M.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhất trí với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Đối với người chứng kiến anh Lý Văn L1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Tô Hồng M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ ngày 30/6/2023, Tổ công tác đội điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang bị cáo Tô Hồng M có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Tô Hồng M thu giữ 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có 21 (hai mươi mốt) viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên nén đều có chữ WY; 01 (một) gói nilon trong suốt, bên trong có 45 (bốn mươi lăm) viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên nén đều có chữ WY; 02 (hai) gói nilon trong suốt, bên trong mỗi gói nilon đều có chứa các cục chất tinh thể màu trắng. Theo Kết luận giám định số 744/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “Phong bì ghi chữ QUẢ TANG TÔ HỒNG M: 01 (một) viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,092 gam (đã trừ bì). Phong bì ghi chữ MA TÚY KHÁM XÉT: 66 (sáu mươi sáu) viên nén màu hồng và các cục chất tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 8,605 gam (đã trừ bì)”. Tổng số ma túy bị cáo Tô Hồng M tàng trữ là 8,697 gam ma túy Methamphetamine mục đích bị cáo Tô Hồng M tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tô Hồng M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét về hành vi phạm tội: Bị cáo Tô Hồng M có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo Tô Hồng M có đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo Tô Hồng M thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, việc tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng đủ sức răn đe đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, qua đó ấn định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tô Hồng M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tô Hồng M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Tô Hồng M đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử phạt vi phạm hành chính, xác định nhân thân xấu.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Tô Hồng M ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện bị cáo nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, là người nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì ghi chữ "Quả tang Tô Hồng M" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói nilon (cũ) đựng 0,064 gam chất ma túy Methamphetamine và 01 (một) phong bì ghi chữ "Ma túy khám xét" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 04 (bốn) gói nilon (cũ) đựng 7,615 gam chất ma túy Methamphetamine, là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Tô Hồng M không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với người đàn ông làm nghề lái xe ôm mua ma túy cho bị cáo Tô Hồng M tại khu vực Bến xe P, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Tô Hồng M khai người đàn ông trên khoảng 50 tuổi, dáng người gầy nhưng không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu nào khác, nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ngôi nhà Tô Hồng M đang sinh sống tại thôn H, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn qua xác minh là nhà của ông Tô Thanh B và bà Lưu Phương L là bố mẹ đẻ của bị cáo Tô Hồng M. Ông Tô Thanh B và bà Lưu Phương L đã chuyển sang sống ở ngôi nhà bên cạnh và giao ngôi nhà trên cho bị cáo Tô Hồng M tự quản lý. Việc bị cáo Tô Hồng M tàng trữ ma túy tại nhà gia đình không biết. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với ông Tô Thanh B và bà Lưu Phương L, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Tô Hồng M bị kết án, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Hồng M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Hồng M 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/6/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ghi chữ "Quả tang Tô Hồng M" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói nilon (cũ) đựng 0,064 gam chất ma túy Methamphetamine và 01 (một) phong bì ghi chữ "Ma túy khám xét" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại các phần giáp lai mới. Bên trong có 04 (bốn) gói nilon (cũ) đựng 7,615 gam chất ma túy Methamphetamine.
Trả lại cho bị cáo Tô Hồng M 01 (một) căn cước công dân mang tên Tô Hồng M.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Tô Hồng M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tô Hồng M có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Đội TH Công an H. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Duyện |