vanban.org

Bản án 100/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS-ST
Ngày: 11-5-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nguyên.

2/ Bà Trần Thị Nga.

Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1997, tại Hà Nội; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số 55, thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Tiến S (chết); họ và tên mẹ: Hoàng Thị T; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 19/7/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 12 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong quyết định ngày 22/6/2012, theo Giấy chứng nhận số 122/GCN-TGD của Trường giáo dưỡng số 3.

Ngày 21/7/2014, bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 182/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2016, theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 90/GCN của Trại giam Gia Trung, đóng án phí ngày 13/01/2015 theo Công văn số 488/CCTHADS-TH ngày 10/3/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Hồ Đắc N, sinh năm: 2001 (vắng mặt).

Nơi cư trú: B3/41F8 đường liên ấp 2-6, ấp N, xã A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông Phạm Quý T, sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: 36/4 Quang Trung, Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua điều tra xác định: Nguyễn Văn C khai nhận là người nghiện ma túy từ tháng 6 năm 2022 trở về trước. Do muốn sử dụng ma túy trở lại nên vào khoảng 22 giờ ngày 15/12/2022, C nhờ bạn là Hồ Đắc N dùng xe mô tô biển số 59S2-481.31 chở đi công việc. Khi nhờ N chở đi, C không nói cho N biết là đi mua ma túy sử dụng. Sau đó, C kêu N chở đến khu vực đường Trường Trinh thuộc quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi cả hai đi đến ngã ba đường Trường Trinh - Âu Cơ thì C kêu N dừng xe lại tại cây xăng trên đường Âu Cơ. Lúc này, C đi bộ đến trước địa chỉ 910, Trường Trinh, Phường 15, quận Tân Bình hỏi mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 nỏ thủy tinh giá 15.000 đồng và 300.000 đồng ma túy. Sau đó, C đưa cho người phụ nữ này số tiền 315.000 đồng, người phụ nữ đưa cho C 01 nỏ thủy tinh, C lấy nỏ cất vào túi áo khoác phía trước bên trái. Tiếp đó, người phụ nữ chỉ cho C 01 gói giấy bên trong có chứa ma túy đá để ở dưới nền đất; C nhặt gói ma túy và cất vào trong túi áo khoác phía trước bên phải rồi quay ra gặp N để N chở về nhà. Khi đi một đoạn thì C lấy gói ma túy ra và gỡ bỏ mảnh giấy rồi tiếp tục cất gói nylon ma túy vào túi áo khoác. Khi N điều khiển xe mô tô biển 59S2- 481.31 đi đến trước địa chỉ 2314, Quốc lộ 50, xã Đa Phước, huyện Bình Chánh thì bị Tổ tuần tra Trung đoàn Cảnh sát cơ động 29, BCA phối hợp cùng Công an xã Đa Phước và Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh tuần tra, nghi vấn kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi phía trước áo khoác của C đang mặc có 01 gói nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu, C khai nhận là ma túy vừa mua được cất giữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định số 102/KL- KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

01 gói nylon chứa tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m thu giữ của Nguyễn Văn C cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4140g, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu qua giám định có khối lượng 0,4140 g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 nỏ thủy tinh; 01 điện thoại di động hiệu Oppo thu giữa của C; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Emel1:164523, Emel 2: 64521 cùng 01 sim, trên sim có số 913480; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen xám, biển số 59S2-48131, số khung: RLHHC- 1250 FY173715; số máy: HC12E -71737352 thu giữ của ông N.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 89/CT-VKSBC ngày 04/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạt bổ sung bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 61 - 66, 70 - 75); phù hợp với lời khai của ông Hồ Đắc N (47 - 55); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả giám định vật chứng, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 16/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,4140 gam, loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh) với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 00 giờ 20 phút cùng ngày tại trước nhà số 2314, Quốc lộ 50, xã Đa Phước, huyện Bình Chánh.

Với những tình tiết được chứng minh tại phiên toà Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược được Nhà nước thống nhất quản lý hết sức chặt chẽ, mọi hành vi liên quan đến ma túy từng mức độ sẽ bị xử lý hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma tuý sử dụng cho bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đưa đi giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Ngày 19/7/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 12 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 21/7/2014, bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 182/2014/HSST.

Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử lưu ý đến nhân thân của bị cáo mà có mức án nghiêm đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.

Đối với Hồ Đắc N: Quá trình điều tra xác định N có hành vi dùng xe mô tô biển số 59S2 - 481.31 chở bị cáo đi mua ma túy. Tuy nhiên, khi chở đi C nói đi công việc, không nói cho N biết đi mua ma túy. Việc mua ma túy và tàng trữ của bị cáo không liên quan đến N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xử lý N với vai trò đồng phạm cùng với bị cáo, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu qua giám định có khối lượng 0,4140 g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 0,3610 g); 01 nỏ thủy tinh. Những vật chứng trên là vật cấm tàng trữ; vật không có giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án sẽ trả lại cho bị cáo nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Emel1:164523, Emel 2: 64521 cùng 01 sim, trên sim có số 913480 là tài sản của Hồ Đắc N không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm thủ tục giao trả cho ông N theo Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu được lập vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 22/02/2023, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen xám, biển số 59S2 - 481.31, số khung: RLHHC- 1250 FY173715; số máy: HC12E -71737352. Qua xác minh xe này do ông Phạm Quý T đứng tên sở hữu, sau đó ông Thái cho N mượn làm phương tiện đi lại. Qua điều tra, ông Thái và ông N không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm thủ tục giao trả cho ông Thái theo Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu được lập vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 22/02/2023, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo còn chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c Khoản 1, Khoản 5 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào các điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu qua giám định có khối lượng 0,4140 g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (sau giám định còn lại là 0,3610 g); 01 nỏ thủy tinh.

Tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo để đảm bảo thi hành án.

(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập vào 14 giờ 30 phút ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).

Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ