- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về việc ly hôn và nuôi con chung giữa bà Phan Thị N và ông Lê Minh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị N được ly hôn ông Lê Minh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-4-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Du
2. Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 422/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/3/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm: 1994; địa chỉ: Số 131 đường Ph, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số 131 đường Ph, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện ngày 17/10/ 2022, bản tự khai ngày 28/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Minh T kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (số 136, quyển số 01/2015 ngày 26/11/2015). Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung với cha mẹ ông T tại địa chỉ số 131 đường Ph, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng cũng đã âm ỉ từ lâu nhưng trầm trọng nhất là vào năm 2020, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến cải vã lời qua tiếng lại, ông T lạnh nhạt, không quan tâm gì đến bà. Mặc dù, bà và ông T cùng chung sống trong một mái nhà nhưng vợ chồng phần ai nấy lo, không ai quan tâm đến ai. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, bà không còn tình cảm gì với ông T nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Minh T.
- Về con chung: Bà xác nhận vợ chồng có 03 con chung tên Lê Minh Th, sinh ngày 17/04/2016; Lê Minh T, sinh ngày 08/02/2018 và Lê Bảo Tr, sinh ngày 03/8/2020. Ly hôn, bà có nguyện vọng được nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Lê Bảo Tr và giao con Lê Minh Th, Lê Minh T cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
- Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Bà N xác nhận không có.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị N.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa tuân thủ đúng theo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị N, xử cho bà Phan Thị N được ly hôn ông Lê Minh T.
+ Về quan hệ con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Lê Bảo Tr, sinh ngày 03/8/2020 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Lê Minh Th, sinh ngày 17/04/2016 và Lê Minh T, sinh ngày 08/02/2018 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
+ Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà N xác nhận không có.
+ Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Phan Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Lê Minh T cư trú tại địa chỉ số 131 đường Ph, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Bị đơn ông Lê Minh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, bà Phan Thị N yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Minh T.
Xét thấy: Qua lời khai của bà N cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, bà Phan Thị N và ông Lê Minh T kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, sau khi kết hôn vợ chồng bà Phan Thị N và ông Lê Minh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nhưng trầm trọng nhất là vào năm 2020, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm về kinh tế, về lối sống, ông T không có trách nhiệm với gia đình nên thường xuyên có lời qua tiếng lại, sống không hạnh phúc. Mặc dù, bà N và ông T cùng chung sống trong một mái nhà nhưng vợ chồng phần ai nấy sống, không ai có trách nhiệm với ai. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng ông T không đến Tòa án. Điều này chứng tỏ ông T không quan tâm, không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông T đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Phan Thị N được ly hôn với ông Lê Minh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà N và ông T có 03 con chung tên Lê Minh Th, sinh ngày 17/04/2016; Lê Minh T, sinh ngày 08/02/2018 và Lê Bảo Tr, sinh ngày 03/8/2020. Ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Lê Bảo Tr, giao con chung là Lê Minh Th và Lê Minh T cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Xét thấy, việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần, cha mẹ đều có trách nhiệm đối với con chung. Hiện nay, cháu Lê Bảo Tr còn rất nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi cháu rất cần sự quan tâm chăm sóc hàng ngày của người mẹ. Bà Tr hiện đang làm công nhân thu nhập trung bình một tháng từ 6.000.000 đồng - 7.000.000đồng, còn ông T làm nghề lái xe múc thu nhập trung bình một tháng trên 10.000.000 đồng. Do vậy, giao cháu Lê Bảo Tr cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Lê Minh Th và cháu Lê Minh T cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết..
Về nợ chung: Bà N xác nhận không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Phan Thị N phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị N được ly hôn ông Lê Minh T.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung Lê Bảo Tr, sinh ngày 03/8/2020 cho bà Phan Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Lê Minh Th, sinh ngày 17/04/2016 và Lê Minh T, sinh ngày 08/02/2018 cho ông Lê Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Các bên đương sự có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3.Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà N xác nhận không có.
5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình bà Phan Thị N phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002187 ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông Lê Minh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Cẩm Lệ; - CCTHADS Q.Cẩm Lệ; - TAND thành phố Đà Nẵng; - UBND phường H; - Đương sự; - Lưu. HỘI | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |