- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Hồng H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Phước Trường S, cho ly hôn giữa chị H và anh S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 21 - 7 - 2023. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.
2. Ông Hoàng Hữu Minh.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 183/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng H, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp M , xã H , huyện T , tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phước Trường S, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ 1, ấp 3, xã L , huyện L , tỉnh Đồng Nai.
(Chị H đề nghị giải quyết vắng mặt, anh S vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh S tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại UBND xã L , huyện L , tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, H phúc. Anh chị phát S mâu thuẫn từ năm 2008, do anh S ghen tuông, đánh nhau. Đến cuối năm 2012 thường xuyên cãi nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2019 đến nay, chị ở tỉnh Vĩnh Long, anh S ở Đồng Nai. Nay chị xác định tình cảm không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Phước Trường G, sinh ngày 01/7/2008 và Nguyễn Phước S1, sinh ngày 09/6/2011 hiện nay đang sống chung với chị và ông bà ngoại tại tỉnh Vĩnh Long, có ông bà phụ chăm cháu, chị làm công nhân, thu nhập mỗi tháng 8.000.000 đồng, chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai cháu G và cháu S1, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
- Bị đơn anh S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ án, thời hạn giải quyết, thu thập chứng cứ, việc xét xử của Hội đồng xét xử, việc tuân theo pháp luật của Thư ký đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh S là hợp pháp. Anh chị phát S mâu thuẫn và đã sống ly thân, không thể hàn gắn đoàn tụ. Nay chị H xin ly hôn với anh S, anh S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai cho Tòa án chứng tỏ anh S không quan tâm đến hôn nhân của anh chị. Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Võ Thị Hồng H khởi kiện đối với anh Nguyễn Phước Trường S về yêu cầu ly hôn và nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Long Thành nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Về tư cách tham gia tố tụng: Xác định chị Võ Thị Hồng H là nguyên đơn, anh Nguyễn Phước Trường S là bị đơn.
Về tố tụng: Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị H, anh S.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu nhau, tôn trọng, quan S, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống anh chị có mâu thuẫn nên đã sống ly thân. Mặc dù anh S đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, thể hiện anh S không còn quan tâm đến hôn nhân với chị H nữa. Như vậy, giữa anh chị không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn, đoàn tụ được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ chấp nhận, cho ly hôn giữa chị H và anh S.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Phước Trường G, sinh ngày 01/7/2008 và Nguyễn Phước S1, sinh ngày 09/6/2011, hiện nay đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh S cũng không nộp ý kiến, yêu cầu về con chung. Nhằm ổn định cuộc sống của con chung nên giao 02 con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị H khai không có, còn anh S không gửi yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị H khai không có, còn anh S không gửi yêu cầu gì cho Tòa án và theo kết quả xác minh tại địa phương thì trong thời kỳ hôn nhân của anh chị, không có ai tranh chấp với anh chị về nghĩa vụ tài sản nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Hồng H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Phước Trường S, cho ly hôn giữa chị H và anh S.
Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Phước Trường G, sinh ngày 01/7/2008 và Nguyễn Phước S1, sinh ngày 09/6/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh S được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009143 ngày 07/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp xong.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND H. Long Thành; - Chi cục THADS H. Long Thành; - UBND xã L ; - Các đương sự; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Phước Nguyễn Thị Ngọc Đẹp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Hoa Trần Thị Thanh Hoa THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Hoa |