vanban.org

Bản án 100/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thảo L; Xử cho chị Bùi Thị Thảo L được ly hôn với anh Sầm Văn Ch.

2/. Về nuôi con chung: Giao người con tên Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013 cho chị Bùi Thị Thảo L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Anh Sầm Văn Ch có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn giữa chị Bùi Thị Bảo L và anh Sầm Văn Ch"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thảo L; Xử cho chị Bùi Thị Thảo L được ly hôn với anh Sầm Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2023
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng

Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Nguyễn Minh Hoàng

2/. Bà Đỗ Kim Phụng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 224/2023/TLST-HN ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1/. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thảo L, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp BH2, xã BHP, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long.

2/. Bị đơn: Anh Sầm Văn Ch, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp HM, xã AT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị L có đơn xin vắng mặt, anh Ch vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 06/4/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Bùi Thị Thảo L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Sầm Văn Ch cưới nhau vào khoảng năm 2013, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, anh chị có đi đăng ký kết hôn vào ngày 04/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã AT và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo chị L xác định: thời gian đầu chung sống với nhau thì vợ chồng anh chị sống hạnh phúc, nhưng sau khi cưới được vài năm thì vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Hiện tại vợ chồng không hàn gắn mâu thuẫn được nữa và chị cũng không còn tình cảm gì với anh Ch, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ch.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh chị có một người con chung là Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013. Từ lúc vợ chồng ly thân thì con là do chị trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Hiện tại chị vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con, nên khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chồng chị phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị L xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung. Khi ly hôn chị L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với anh Sầm Văn Ch: Mặc dù anh Ch đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Ch vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án, và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Ch theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Sầm Văn Ch chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: giữa chị L và anh Ch chung sống hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, hiện tại chị L xác định anh không còn tình cảm với anh Ch. Điều này chứng tỏ như vậy cuộc sống vợ chồng của chị L và anh Ch nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn với anh Ch là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Từ lúc chị L và anh Ch ly thân với nhau thì người con là Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013 do chị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Chị L vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao người con tên Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Anh Ch có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị L và anh Ch không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí thì chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Ch. Anh Ch có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị L có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị L.

Anh Ch đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Ch vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Ch.

Về nội dung vụ án: giữa chị L và anh Ch kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã AT cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 04/3/2013 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Ch thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị L và anh Ch lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân từ khoảng năm 2018 đến nay. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Quá trình tố tụng chị L cũng xác định hiện tại chị không còn tình cảm gì với anh Ch, nếu vợ chồng quay về với nhau thì cuộc sống chung cũng không còn hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm của vợ chồng phải được xuất phát từ hai phía, nhưng phía chị L xác định hiện tại chị đã không còn tình cảm gì với anh Ch, như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị L và anh Ch là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh Ch là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Từ lúc chị L và anh Ch ly thân với nhau thì người con là Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013 do chị L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Chị L vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Đồng thời nguyện vọng của cháu Sầm Thảo V cũng mong muốn được tiếp tục sống cùng với chị L. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao người con là Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Về mức cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh Ch có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị L và anh Ch không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thảo L; Xử cho chị Bùi Thị Thảo L được ly hôn với anh Sầm Văn Ch.

2/. Về nuôi con chung: Giao người con tên Sầm Thảo V, sinh ngày 30/10/2013 cho chị Bùi Thị Thảo L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.

Anh Sầm Văn Ch có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: không đặt ra xem xét giải quyết.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: chị Bùi Thị Thảo L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 000135 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Bùi Thị Thảo L và anh Sầm Văn Ch biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ