vanban.org

Bản án 100/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Thanh T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-9-2023
“V/v Ly hôn giữa bà T và ông T1”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và bà Nguyễn Ngọc Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1981

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1979

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Thu T trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị Thu T (gọi tắt là bà T) và ông Nguyễn Thanh T1 (gọi tắt là ông T1) chung sống với nhau vào năm 1999 được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian dài sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T1 không còn tình cảm với vợ và không quan tâm đến vợ con, thường hay vô cớ giận dỗi và bỏ mặc mọi công việc gia đình cho bà T tự lo liệu. Bà T đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi và vợ chồng đã tự sống ly thân với nhau khoảng hai năm mỗi người điều có cuộc sống riêng không còn quan tâm tới nhau. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà T xác định vợ chồng ba người con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H, sinh ngày 04/10/2000; Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 21/9/2002 và Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 06/8/2008. Hiện nay Nguyễn Thị Cẩm H và Nguyễn Thị Cẩm T2 đã trưởng thành và phát triển bình thường con muốn sống với ai thì người đó có trách nhiệm. Đối với cháu Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 06/02/2008 bà T có nguyện vọng được nuôi con không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Bà T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng và người khác nợ vợ chồng: Bà T xác định không có.

Tại phiên tòa hôm nay bà T tiếp tục xin ly hôn với ông T1 và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình làm việc tại Tòa án.

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 vắng mặt không có yêu cầu phản tố và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T.

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 06/02/2008 có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.

Kết quả thu thập chứng cứ: Đơn xác nhận chưa đăng ký kết hôn; giấy khai sinh các con chung của vợ chồng, bản sao căn cước công dân của bà T, bản tự khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn ông T1 vắng mặt tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Không có kiến nghị về phần tố tụng.

Nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận vợ chồng giữa bà T và ông T1. Về con chung giao cháu Nguyễn Thanh T3 cho bà T nuôi dưỡng sau khi ông bà ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung bà T không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Quan hệ pháp luật: Bà T xin ly hôn với ông T1 và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Ông T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Tvà ông T1 chung sống với nhau vào năm 1999 nhưng đến nay chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, căn cứ vào nội dung “Đơn xác nhận chưa đăng ký kết hôn” ngày 12/12/2022 của bà Trang được Ủy ban nhân dân xã Tây Yên huyện An Biên xác nhận tình trạng hôn nhân như sau: “Qua tra cứu sổ lưu đăng ký kết hôn tại UBND xã Tây Yên không tìm thấy đương sự Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 01/01/1981 và Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1979 đăng ký kết hôn”, từ đó có cơ sở để xác định việc ông bà sống chung nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông T1.

Về con chung: Bà T và ông T1 chung sống có ba người con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H, sinh ngày 04/10/2000, Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 21/9/2002 và Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 06/8/2008. Đối với các con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H và Nguyễn Thị Cẩm T2 đã trưởng thành và phát triển bình thường không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng hay cấp dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Thanh T3 từ khi ông bà ly thân đến nay sống với mẹ có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường đồng thời có nguyện vọng được sống với bà T khi cha mẹ ly hôn. Nhận thấy hiện nay bà T có việc làm, có thu nhập để đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung, do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 06/8/2008 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng để không làm xáo trộn cuộc sống của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà T xác định không có, không ai có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà T là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Thanh T1.

2. Về con chung:

Đối với các con chung tên Nguyễn Thị Cẩm H, sinh ngày 04/10/2000 và Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh ngày 21/9/2002 đã trưởng thành và phát triển bình thường không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng hay cấp dưỡng.

Giao cháu Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 06/8/2008 cho bà Nguyễn Thị Thu T nuôi dưỡng sau khi bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Thanh T không tiếp tục chung sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị Thu T không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết ông, bà có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004048 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 08/9/2023, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ