vanban.org

Bản án 100/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Bưu điện kiện đòi nợ"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/DS-ST
Ngày 12-9-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tiến Dũng;

2. Ông Nguyễn Lộc .

- Thư ký phiên tòa : Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Phù Mỹ , tỉnh Bình Định tham gia phiên tò a: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù M ỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số : 50/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” , theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số : 1336/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết đi ̣nh hoãn phiên toà số : 1467/2023/QĐST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB).

Địa chỉ: Tòa nhà L, Số B đường T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn T; Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (theo Giấy uỷ quyền số 03/2023/GUQ-LPB.BĐ ngày 04/4/2023) (Có mặt)

2. Bị đơn:

2.1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1981; địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; (Vắng mặt)

2.2. Ông Hồ N, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khở i kiện đề ngày 13 tháng 3 năm 2023, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 28/02/2020, vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N và Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) – Chi nhánh B1 (gọi tắt: Ngân hàng) ký kết hợp đồng tín dụng số: HDTD4902020630. Theo Hợp đồng tín dụng nêu trên thì vợ chồng bà H, ông N vay của Ngân hàng số tiền 100.000.000 đồng; mục đích vay: Mua sắm đồ gia dụng; thời hạn vay 48 tháng tính từ ngày 28/02/2020; lãi suất cho vay gồm: lãi suất vay trong hạn: 8,5%/năm cố định trong suốt thời gian vay vốn, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thoả thuận bằng 10%/năm. Ngày 28/02/2020, Ngân hàng đã giải ngân và vợ chồng bà H, ông N đã nhận số tiền 100.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay thì vợ chồng bà H, ông N đã vi phạm thời hạn thanh toán nợ gốc và nợ lãi. Tính đến ngày 12/9/2023, vợ chồng bà H, ông N đã trả cho Ngân hàng được tổng số tiền là 91.839.950 đồng (trong đó: Số tiền nợ gốc 69.367.331 đồng và số tiền nợ lãi là 22.472.619 đồng); còn nợ lại số tiền số tiền 39.236.171 đồng. (gồm các khoản: Số tiền nợ gốc là 30.632.669 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 7.102.706 đồng, số tiền phạt chậm trả gốc là 1.305.001 đồng, số tiền phạt chậm trả lãi là 195.795 đồng).

Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng bà H, ông N trả dứt điểm số tiền số tiền 39.040.376 đồng. (gồm các khoản: Số tiền nợ gốc là 30.632.669 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 7.102.706 đồng, số tiền phạt chậm trả gốc là 1.305.001 đồng) và số tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm. Đại diện Ngân hàng rút yêu cầu đối với số tiền phạt chậm trả lãi là 195.795 đồng.

- Ý kiến trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N: Bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N là bị đơn trong vụ án, đã được Thông báo, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về việc Toà án thụ lý vụ án gửi cho Toà án và cũng không đến Toà án để làm việc.

Tại phiên tòa: Bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) số tiền 39.040.376 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày 12/9/2023 đến ngày bà H, ông N tất toán toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng theo lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng số: HDTD4902020630 ngày 28/02/2020. Đình chỉ đối với yêu cầu trả số tiền phạt chậm trả lãi là 195.795 đồng của Ngân hàng;

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N phải chịu 1.952.0018 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 913.000 đồng cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa , ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Tranh chấp hợp đồng” và người bị kiện cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định. Do đó , căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về xác lập hợp đồng vay : Căn cứ vào các lờ i khai của Đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) cùng với tài liệu , chứ ng cứ là 01 (một) Hợp đồng tín dụng số: HDTD4902020630 ngày 28/02/2020 giữa bên cho vay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần B – Chi nhánh B1 và bên vay là bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N; sao kê, lịch trả nợ do nguyên đơn là Ngân hàng cung cấp. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác đi ̣nh:

Vào ngày 28/02/2020, vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N và Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (L) – Chi nhánh B1 ký kết hợp đồng tín dụng số: HDTD4902020630. Theo Hợp đồng tín dụng nêu trên thì vợ chồng bà H, ông N vay của Ngân hàng số tiền 100.000.000 đồng; mục đích vay: Mua sắm đồ gia dụng; thời hạn vay 48 tháng tính từ ngày 28/02/2020; lãi suất cho vay gồm: lãi suất vay trong hạn: 8,5%/năm cố định trong suốt thời gian vay vốn, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thoả thuận bằng 10%/năm. Vợ chồng bà H, ông N đã nhận số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 28/02/2020.

Về thực hiện hợp đồng vay: Sau khi vay tiền của Ngân hàng vợ chồng bà H, ông N đã thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền hàng tháng theo hợp đồng. Đến ngày 07/12/2022, vợ chồng bà H, ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết hai bên.

Tính đến hết ngày 12/9/2023, vợ chồng bà H, ông N đã trả cho Ngân hàng được tổng số tiền là 91.839.950 đồng (trong đó: Số tiền nợ gốc 69.367.331 đồng và số tiền nợ lãi là 22.472.619 đồng); còn nợ lại số tiền số tiền 39.040.376 đồng. (gồm các khoản: Số tiền nợ gốc là 30.632.669 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 7.102.706 đồng, số tiền phạt chậm trả gốc là 1.305.001 đồng).

Về yêu cầu trả nợ của Ngân hàng: Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng bà H, ông N trả dứt điểm số tiền 39.040.376 đồng. (gồm các khoản: Số tiền nợ gốc là 30.632.669 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 7.102.706 đồng, số tiền phạt chậm trả gốc là 1.305.001 đồng) và số tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm.

Xét yêu cầu trả nợ của Ngân hàng là có cơ sở, bỡi lẽ: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với vợ chồng bà H, ông N là hoàn toàn tự nguyện; quá trình giải quyết vụ án vợ chồng bà H, ông N không có ý kiến gì về việc Toà án đã thụ lý vụ án và tại phiên toà vợ chồng bà H, ông N đều vắng mặt, điều này cho thấy vợ chồng bà H, ông N từ bỏ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự, nên vợ chồng bà H, ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Do đó, buộc vợ chồng bà H, ông N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) số tiền là 39.040.376 đồng. (gồm các khoản: Số tiền nợ gốc là 30.632.669 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 7.102.706 đồng, số tiền phạt chậm trả gốc là 1.305.001 đồng) là phù hợp với quy định các điều 463, 466 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự.

Xét yêu cầu của ngân hàng về số tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm là có cơ sở, phù hợp với quy định điều 466 của Bộ luật dân sự.

Việc rút yêu cầu đối với số tiền phạt chậm trả lãi là 195.795 đồng của đại diện Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu số tiền phạt chậm trả lãi.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy đi ̣nh tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Nghi ̣ Quyết số

326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườ ng vụ Quốc hội . Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N phải chịu 1.952.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nên được hoàn trả số tiền tiền tạm ứng án phí là 913.000 đồng.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về đề nghị hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tu ̣ng dân sự. Các điều 463, 466, 468, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 26 của Nghi ̣ quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hội quy đi ̣nh về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử du ̣ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khở i kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB).

Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) số tiền là 39.040.376 (Ba mươi chín triệu không trăm bốn mươi nghìn ba trăm bảy mươi sáu) đồng. (gồm các khoản: Số tiền nợ gốc là 30.632.669 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 7.102.706 đồng, số tiền phạt chậm trả gốc là 1.305.001 đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N phải chi ̣u 1.952.000 (Một triệu chín trăm năm mươi hai nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;

2.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 913.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA-2021/0009159 ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Hồ N, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

4.1. Kể từ ngày 13/9/2023 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền thì vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: HDTD4902020630 ngày 28/02/2020 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (LPB)-Chi nhánh B1 với vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Hồ N.

4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ