- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Khắc T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Khắc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 100/2022/HS - ST Ngày: 16/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hạnh
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND Thành phố Thanh hoá tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2022/HSST/TLST - HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2022/QĐXXST – HS ngày 03 tháng 03 năm 2022 đối với bị cáo:
Phùng Khắc T, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: Số 70 K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà 06A K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Phùng Khắc D (đã chết) và bà Tô Thị T; Có vợ Đỗ Thị H (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: - Ngày 27/9/1997 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
- Ngày 17/9/2004 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 05/02/2007 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 21/01/2011 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 23/12/2016 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 25/7/2015 bị phòng PC47 Công an tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
1
- Ngày 23/5/2018 bị phòng PC47 Công an tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/11/2021; chuyển tạm giam từ ngày 24/11/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; “ Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 18/11/2021, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đường K, phường Đ, thành phố T, Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra đối với Phùng Khắc T, phát hiện thu giữ trong tay trái Tiên 01 gói nilon màu đen kích thước khoảng 1x1,5cm, bên trong chứa chất cục bột màu trắng và thu giữ trong túi áo ngực Tiên 01 xi lanh chưa qua sử dụng. T khai nhận chất cục bột màu trắng bên trong gói nilon bị thu giữ là ma túy, loại Heroine, Tiên cất giữ để sử dụng. Tổ công tác Công an phường Đ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ, niêm phong gói ma túy để phục vụ công tác điều tra .
Về nguồn gốc ma túy, T khai bản thân là người nghiện, khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ đến khu vực gần cầu Bố, nhờ người đàn ông tên là H (còn gọi là H Mộc, địa chỉ ở gần nhà T) mua hộ một gói ma túy với giá 150.000đ; H đồng ý rồi đi đâu T không biết, một lát sau, H quay lại ném gói nilon màu đen xuống chân T, Tiên hiểu là ma túy, nhặt lên cầm trong tay trái đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường Đ bắt quả tang. Số tiền mua ma túy T khai do Đỗ Ngọc T cho T, Tr không biết T dùng số tiền này để mua ma túy.
Đối với Phạm Văn H (tức H Mộc), bị cáo khai đã nhờ mua hộ ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập lấy lời khai nhưng H không thừa nhận. Ngoài lời khai của bị cáo T không có chứng cứ khác chứng minh H Mộc mua hộ ma túy cho bị cáo, do đó không có căn cứ để xử lý đối với H Mộc.
Đối với số tiền mua ma túy, bị cáo khai là tiền do Đỗ Ngọc Tr cho, nhưng anh Tr không biết bị cáo dùng số tiền này dùng để mua ma túy, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Tr.
Tại bản kết luận giám định số 3491/PC09 ngày 22 tháng 11 năm 2021của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “ Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,234 gam, loại Heroine”.
Tại bản cáo trạng số 67/CT - VKSTPTH ngày 26 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh hoá truy tố bị cáo Phùng Khắc T về tội “Tàng trữ phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù; Đề
2
nghị HĐXX xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thành phố Thanh hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/11/2021, bị cáo đi đến khu vực Cầu Bố, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa nhờ người mua hộ 01 gói ma túy, loại Hêroin có trọng lượng 0,234 gam với giá 150.000đ với mục đích để sử dụng, nhưng bị cáo đi đến khu vực đường K, phường Đ, thành phố T để tìm nơi sử dụng thì bị Công phường Đ phát hiện, bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mua ma túy về với mục đích sử dụng của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả rất nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, bị cáo hiểu rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
3
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy và có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, tội “Gây rối trật tự công cộng” và bị xử lý hành chính về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”, nay bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy, điều đó chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, xem thường pháp luật, nên cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu của bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 xi lanh nhựa không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Khắc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Phùng Khắc T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/11/2021.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì ma túy, được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Tỉnh Thanh Hóa và 01 xi lanh nhựa theo biên bản giao nhận vật chứng số 69/2022/THA ngày 28 tháng 02 năm 2022 giữa Công an Thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh hóa.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
4
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an TP. Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. 5 6 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Lê Thị Tân |