vanban.org

Bản án 100/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc L 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23/4/2022). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2022/HS-ST
Ngày: 26-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Lợi

Bà Hoàng Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Trịnh Ngọc L, sinh ngày 27/11/1994; Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh T1; Chỗ ở: Thôn T2, xã V1, huyện K, tỉnh T1. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trịnh Ngọc L1 và bà Nguyễn Thu H.

Tiền án: Bản án số 05/2019/HS-ST ngày 21/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T1 xử phạt Trịnh Ngọc L 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2020, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân: Bản án số 68/2015/HSST ngày 16/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T1, tỉnh T1 xử phạt Trịnh Ngọc L 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 26/10/2017, chấp hành xong án phí ngày 09/6/2015.

Bị tạm giữ từ ngày 23/4/2022 đến ngày 26/4/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1997. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T3, huyện K, tỉnh T1.

- Người chứng kiến:

+ Anh Trần Văn T4, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn L2, xã V2, huyện V, tỉnh T1.

+ Anh Lê Thanh T5, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Trú tại: Số nhà 08, tổ 18, phường Q, thành phố T1, tỉnh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 22/4/2022, Trịnh Ngọc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu đen, đeo biển số 29L1 - 498.62 đi chơi ở khu vực đê sông T6 thuộc địa phận tổ 01, phường L3, thành phố T1, tỉnh T1 thì gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi, L không biết tên và địa chỉ, chào bán ma túy kẹo cho L với giá 300.000 đồng một viên. Do có tiền, L nảy sinh ý định mua ma túy kẹo về để sử dụng dần cho bản thân, nên đã mua của người này 4.800.000 đồng được 16 viên ma túy kẹo là viên nén hình elip màu tím đựng trong 01 túi nilon trong suốt có mép cài. Sau đó L mang túi ma túy về nhà cất giấu trong túi áo ngực bên trái áo chống nắng của L treo trên mắc áo trong nhà. Đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 23/4/2022, L lấy áo chống nắng mặc lên người và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu đen, đeo biển số 29L1 - 498.62 đi chơi, khi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã T3, huyện K, tỉnh T1 thì gặp và rủ bạn là Nguyễn Xuân H1 đi uống nước. H1 đồng ý và điều khiển xe mô tô chở L ngồi sau lên thành phố T1 để uống nước. Khi H1 và L đi đến khu vực đường tránh S2, thuộc địa phận thôn L4, xã V3, thành phố T1, tỉnh T1 thì tổ công tác Công an thành phố Thái Bình kết hợp với Công an xã V3, thành phố T1 yêu cầu kiểm tra đối với H1 và L. Trước sự chứng kiến của anh Trần Văn T4 và anh Lê Thanh T5, L tự giác lấy từ túi áo ngực bên trái áo chống nắng màu xám - đen - trắng của L ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài, bên trong có 16 viên nén hình elip màu tím, L khai nhận là ma túy dạng kẹo của L cất giấu để sử dụng cho bản thân, kiểm tra người L, tổ công tác thu tại túi quần bên trái L đang mặc 01 điện thoại Iphone 12 Pro, màu xanh. Kiểm tra người H1 và xe mô tô không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Ngọc L tại thôn T2, xã V1, huyện K, tỉnh T1 không phát hiện thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 131/KL-KTHS(MT) ngày 25/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định quản lý của Trịnh Ngọc L là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 4,5654 gam (Bốn phẩy năm nghìn sáu trăm năm mươi tư gam).

Bản Cáo trạng số 105/CT-VKSTPTB ngày 13 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Trịnh Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc L mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 131/KL-KLHS(MT). Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đã qua sử dụng. Trả lại anh Nguyễn Xuân H1 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu đen đã cũ. Tịch thu tiêu hủy 01 áo chống nắng, màu xám - đen - trắng, nhãn mác có chữ Evas và biển số 29L1 - 498.62.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Trịnh Ngọc L nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/4/2022 tại khu vực đường tránh S2, thuộc địa phận thôn L4, xã V3, thành phố T1, tỉnh T1, Trịnh Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại MDMA, có khối lượng 4,5654 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

Hành vi của Trịnh Ngọc L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Trịnh Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bản án số 05/2019/HS-ST ngày 21/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T1 xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, không có tài sản, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Trịnh Ngọc L còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với tài sản quản lý của bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo.

01 áo chống nắng màu xám - đen - trắng, nhãn mác có chữ Evas không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu đen, đăng ký xe mang tên chị Trần Thị Kim C, sinh năm 1978, trú tại thôn L5, xã V4, huyện V5, thành phố H2, biển số 15B1-655.23. Chị C đã bán chiếc xe máy này cho Nguyễn Xuân H1 vào tháng 11 năm 2021. Ngày 21/4/2022, anh H1 đã cho Trịnh Ngọc L mượn chiếc xe mô tô để sử dụng, không biết L sử dụng xe để đi mua ma túy. Do đó trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Xuân H1.

Trong quá trình sử dụng anh H1 đã làm rơi biển số 15B1-655.23 và nhặt được biển số 29L1-498.62 lắp vào xe mô tô này. Đối với biển số xe 29L1-498.62 là biển số đăng ký của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đỏ đen, chủ sở hữu là chị Lê Thị T7, sinh năm 1972, trú tại số nhà 293, tổ 18, phường C1, quận N, thành phố H3, hiện chị T7 đang quản lý, sử dụng chiếc xe này, không bị mất biển số đăng ký. Công an thành phố Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân H1 về hành vi gắn biển số xe không đúng với giấy đăng ký xe theo quyết định số 0001820 ngày 27/6/2022. Vì vậy tịch thu tiêu hủy đối với biển số 29L1-498.62.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Trịnh Ngọc L khai mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực đê sông T6 thuộc địa phận tổ 01, phường L3, thành phố T1, tỉnh T1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc L 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23/4/2022).

3.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Trịnh Ngọc L hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi số 131/KL-KLHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đã qua sử dụng.

Trả lại anh Nguyễn Xuân H1 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu đen, số khung RLCS5C6308Y125802, số máy 5C63 – 125802.

Tịch thu tiêu hủy biển số 29L1-498.62 và 01 áo chống nắng, màu xám - đen - trắng, nhãn mác có chữ Evas.

(Vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/7/2022).

4. Về án phí: Bị cáo Trịnh Ngọc L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/8/2022. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ