vanban.org

Bản án 100/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đối với bị cáo Trần Thái H: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Trần Thái H 08 (tám) năm tù.

Đối với bị cáo Đỗ Ngọc H1: Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-02-2022. Buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Miễn hình phạt bổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đối với bị cáo Trần Thái H: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Trần Thái H 08 (tám) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NH1 DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2022/HS-ST
Ngày: 24-8-2022

NH1 DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH1 DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nH1 dân:

- Ông Phan Công Ny.

- Ông Nguyễn Tấn Triều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thái Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nH1 dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nH1 dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nH1 dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Trần Thái H, sinh ngày xxxx tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Số xxx khu vực x, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H4 (sống) và bà Trần Thị Thảo D (sống); bị cáo có vợ Đỗ Ngọc H1 (bị cáo trong vụ án); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12-02-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ninh Kiều (có mặt tại phiên tòa).

2. Đỗ Ngọc H1, sinh ngày xxxx tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Số xxx khu vực x, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thanh H5 (sống) và bà Phan Thị L (sống); bị cáo có chồng Trần Thái H (bị cáo trong vụ án); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12-02-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Ninh Kiều (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Ngọc H3. Địa chỉ: Số xxx, khu vực xxx, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

- Người làm chứng:

Ông Trương Thế H2. Địa chỉ: Số xxx, khu vực x, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

- Người chứng kiến:

+ Ông Lê Tấn P. Địa chỉ: Số xxxx đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt).

+ Ông Trần Văn H4. Địa chỉ: Số xxx, khu vực x, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12-02-2022, tại trước đầu hẻm xxxx đường x, phường H, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận Ninh Kiều kết hợp cùng Công an phường Hưng Lợi đã dừng xe, kiểm tra và phát hiện chất nghi ma túy do Trần Thái H và Đỗ Ngọc H1 mang theo trên người, cả hai thừa nhận đang đi giao bán trái phép ma túy nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilon không màu, nẹp miệng chứa tinh thể không màu và 01 tờ tiền mệnh giá l.000 đồng bên trong có 01 gói nilon không màu, nẹp miệng chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy) được thu giữ trên tay phải của Đỗ Ngọc H1; 01 gói nilon không màu, nẹp miệng chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy) được thu giữ trong túi quần sau bên trái của Trần Thái H đang mặc; 01 xe mô tô, biển số 65B1-741.78; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh.

Tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thái H, Đỗ Ngọc H1 tại số xx khu vực x, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thu giữ: 05 nỏ thủy tinh; 01 chai gas mini; 03 quẹt gas; 02 cây kéo inox; 10 gói nilon không màu, nẹp miệng rỗng bên trong; 03 đoạn ống hút nhựa nhọn một đầu; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng; tiền Việt Nam: 1.500.000 đồng (tất cả được thu giữ trên nền gạch ở góc trái phòng ngủ).

Tại Kết luận giám định số 86/KL - PC09 ngày 18-02-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận:

- Gói 1: 01 gói nilon không màu nẹp miệng và 01 tờ tiền mệnh giá l.000 đồng gói 01 gói nilon không màu nẹp miệng, cả 02 gói nilon chứa tinh thể không màu, là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,6824 gam.

- Gói 2: 01 gói nilon không màu nẹp miệng chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,3641 gam.

Tại Cơ quan điều tra, hai bị cáo Trần Thái H, Đỗ Ngọc H1 khai nhận: Bắt đầu bán trái phép ma túy được khoảng 01 tháng, bị cáo H trực tiếp mua ma túy và giao dịch qua điện thoại với người nghiện để hẹn nơi giao bán ma túy. Đến ngày bị bắt H đã bán trái phép ma túy cho người nghiện tên Thành 02 lần với số tiền là 300.000 đồng/lần; bán trái phép ma túy cho Trương Thế H2 06 lần với số tiền 200.000 đồng/lần, trong đó có 02 lần bị cáo H đi cùng bị cáo H1 và H1 là người trực tiếp bán ma túy cho H2. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 12-02-2022, bị cáo H nghe điện thoại của Thành hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và hẹn nơi giao nhận, H đồng ý. H lấy xe mô tô, biển số xxxxxxxx chở H1 đến khu vực Xóm Chài thuộc phường Hưng Phú, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; H trực tiếp vào một con hẻm gặp đối tượng tên Thắng (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 950.000 đồng ma túy đá và yêu cầu Thắng chia thành 03 gói để bán lại cho người nghiện. Sau khi mua được ma túy, H cất 01 gói ma túy lớn vào túi quần sau bên trái đang mặc; 01 gói ma túy H gói bên trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng rồi kẹp chung 01 gói ma túy còn lại đưa cho H1 cầm để mang giao cho Thành. Khi H điều khiển xe chở H1 chạy đến trước đầu hẻm 701 đường 30/4, khu vực 3, phường Hưng Lợi thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 03 gói ma túy hai bị cáo chưa bán được cho người nghiện. Tiền thu lợi bất chính từ việc bán mua túy của hai bị cáo là 400.000 đồng.

Đối với tên “Thắng” ở khu vực Xóm Chài thuộc phường Hưng Phú, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ - bán ma túy cho H, H1 và người nghiện ma túy tên Thành đã mua ma túy của H và H1; do các bị cáo khai không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau. Riêng Trương Thế H2 Cơ quan điều tra đã thông báo về địa phương để quản lý.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu đỏ, biển số xxxxx thuộc sở hữu của bà Trần Thị Ngọc H3 (chị bà con của H). Bà H3 cho H mượn sử dụng. Ngày 12-02-2022 H, H1 sử dụng xe này đi mua bán trái phép ma túy thì bà H3 không biết. Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số xxxxxxx cho bà H3.

Cáo trạng số 91/CT-VKSNK ngày 07-7-2022 của Viện kiểm sát nH1 dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Trần Thái H và bị cáo Đỗ Ngọc H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt BLHS 2015).

Tại phiên tòa:

* Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản như nội dung cáo trạng. Sau khi pH1 tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nH1 tH1 của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015 đối với các bị cáo; riêng bị cáo H1 áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015; tuyên bố bị cáo H và bị cáo H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, mức hình phạt đề nghị:

+ Đối với bị cáo Trần Thái H: Xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù. Buộc bị cáo nộp thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng.

+ Đối với bị cáo Đỗ Ngọc H1: Xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 08 năm tù. Buộc bị cáo nộp thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

+ Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu đỏ, biển số xxxxxx cho bà Trần Thị Ngọc H3.

+ Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 86G1/KLGĐ - PC09 và 86G2/KLGĐ

- PC09 ngày 18-02-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ; 05 nỏ thủy tinh; 01 chai gas; 03 quẹt gas; 02 cây kéo inox; 10 gói nilon không màu nẹp miệng rỗng bên trong; 03 đoạn ống hút nhựa nhọn một đầu.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng.

+ Tịch thu lưu hồ sơ 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng.

+ Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo H1 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 1.500.000 đồng nhưng tạm giữ lại số tiền để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt. Lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ đã có đủ lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 12-02-2022, bị cáo H nghe điện thoại của Thành hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và hẹn nơi giao nhận, H đồng ý. H lấy xe mô tô, biển số xxxx chở H1 đến khu vực Xóm Chài thuộc phường Hưng Phú, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; H trực tiếp vào một con hẻm gặp đối tượng tên Thắng (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 950.000 đồng ma túy đá và yêu cầu Thắng chia thành 03 gói để bán lại cho người nghiện. Sau khi mua được ma túy, H cất 01 gói ma túy lớn vào túi quần sau bên trái đang mặc; 01 gói ma túy H gói bên trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng rồi kẹp chung 01 gói ma túy còn lại đưa cho H1 cầm để mang giao cho Thành. Khi H điều khiển xe chở H1 chạy đến trước đầu hẻm 701 đường 30/4, khu vực 3, phường Hưng Lợi thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Kết luận giám định số: 86/KL-PC09 ngày 18-02-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: 01 gói nilon không màu nẹp miệng và 01 tờ tiền mệnh giá l.000 đồng gói 01 gói nilon không màu nẹp miệng, cả 02 gói nilon chứa tinh thể không màu, là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,6824 gam; 01 gói nilon không màu nẹp miệng chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,3641 gam.

Ngoài việc bán ma túy lần này bị bắt quả tang, bị cáo H còn khai nhận bán trái phép ma túy cho người nghiện tên Thành 02 lần, bán cho Trương Thế H2 06 lần, trong 06 lần đó có 02 lần bị cáo H đi cùng bị cáo H1 và bị cáo H1 là người trực tiếp bán ma túy cho H2. Bị cáo H1 khai nhận trước đó cùng bị cáo H bán ma túy cho Trương Thế H2 02 lần, cả 02 lần bị cáo là người trực tiếp giao ma túy và nhận tiền.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS 2015. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015, tình tiết này là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt dành cho các bị cáo. Riêng bị cáo H1 có ông bà là người có công với cách mạng (bà Nguyễn Thị Đính là mẹ Việt Nam anh hùng), bà ngoại bị cáo trước đây cũng là dân công hỏa tiếng tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo nhằm mục đích thu lợi bất chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nH1 phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác.

Trong vụ án này, bị cáo H là người trực tiếp mua ma túy và giao dịch qua điện thoại với người nghiện để hẹn nơi giao bán ma túy, bị cáo H1 cùng bị cáo H bán trái phép ma túy 02 lần cho Trương Thế H2. Các bị cáo có sự thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, do đó các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm.

Các bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua ma túy và bán ma túy lại cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi này cần phải xử lý nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe các bị cáo sống phải biết đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng căn cứ vào nhân thân của các bị cáo và căn cứ vào Điều 58 BLHS 2015 để xem xét vai trò phạm tội của từng bị cáo trong vụ án nhằm đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo H là người rủ rê bị cáo H1, là người trực tiếp mua ma túy và giao dịch qua điện thoại với người nghiện để hẹn nơi giao bán ma túy, ngoài đi bán ma túy 02 lần chung với bị cáo H1, bị cáo H còn bán ma túy cho người nghiện tên Thành 02 lần, bán cho Trương Thế H2 04 lần, bị cáo H1 chỉ tham gia bán ma túy chung với bị cáo H 02 lần và có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo H nên mức hình phạt cho bị cáo H sẽ có phần cao hơn bị cáo H1. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với toàn bộ diễn biến hành vi các bị cáo thực hiện.

Xét thấy các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích lợi nhuận nên Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải nộp lại khoảng thu lợi bất chính từ việc bán trái phép ma túy của các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với đối tượng tên Thắng - bán ma túy cho H, H1 và người mua ma túy tên Thành, do các bị cáo khai không rõ nH1 tH1, lai lịch cụ thể nên không đề cập xử lý. Riêng Trương Thế H2, Cơ quan điều tra đã thông báo về địa phương để quản lý nên không đề cập để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với chất Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 86G1/KLGĐ - PC09 và 86G2/KLGĐ - PC09 ngày 18-02-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

+ 05 nỏ thủy tinh; 01 chai gas; 03 quẹt gas; 02 cây kéo inox; 10 gói nilon không màu nẹp miệng rỗng bên trong; 03 đoạn ống hút nhựa nhọn một đầu là vật các bị cáo dùng để cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, bị cáo H sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước.

+ 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng, bị cáo H dùng để gói ma túy nên tịch thu lưu hồ sơ.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh của bị cáo H và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, tiền Việt Nam 1.500.000 đồng của bị cáo H1 là tài sản cá nH1 của các bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ lại số tiền để đảm bảo thi hành án.

+ Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu đỏ, biển số 65B1-741.78 cho bà Trần Thị Ngọc H3 nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS 2015 tuyên bố bị cáo Trần Thái H, bị cáo Đỗ Ngọc H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Đối với bị cáo Trần Thái H: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Trần Thái H 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-02-2022. Buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Đối với bị cáo Đỗ Ngọc H1: Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-02-2022. Buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 86G1/KLGĐ - PC09 và 86G2/KLGĐ

- PC09 ngày 18-02-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ có trọng lượng Methamphetamine còn lại sau giám định; 05 nỏ thủy tinh; 01 chai gas; 03 quẹt gas; 02 cây kéo inox; 10 gói nilon không màu nẹp miệng rỗng bên trong; 03 đoạn ống hút nhựa nhọn một đầu.

- Tịch thu bán đấu giá nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng.

- Tịch thu lưu hồ sơ tiền Việt Nam 1.000 đồng (Một nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Trần Thái H 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Ngọc H1 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ lại số tiền để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều đang quản lý – Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08-7-2022).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ