vanban.org

Bản án 100/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M– TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2022/HS-ST
Ngày 07-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M– THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Mạnh Nhanh.

ông Nguyễn Tiến Bộ.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022; Thông báo về việc hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm số 46/HSST-TB ngày 08/11/2022; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 54/TB-HSST ngày 18/11/2022 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm số 56/HSST-TB ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:

Đoàn Văn C, sinh năm 1996 tại xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn B và bà Trần Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 04/4/2012 bị Công an huyện U, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cưỡng đoạt tài sản, hình thức xử phạt là cảnh cáo; bị tạm giữ từ ngày 21/8/2022, chuyển tạm giam ngày 30/8/2022. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đoàn Thị Thanh L, sinh năm 2002. Có mặt.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 50 phút ngày 21/8/2022, tại khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa huyện M thuộc thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, Công an huyện Mbắt quả tang đối với Đoàn Văn C, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội. Tang vật thu giữ tại tay trái C đang cầm 01 gói giấy bạc, bên trong có 08 viên nén màu hồng, C khai nhận đó là ma túy “ngựa” của C mang đi bán, chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng của C.

Quá trình điều tra làm rõ:

Đoàn Văn C là đối tượng có sử dụng ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 17/8/2022, C gọi từ số điện thoại của mình “0353141996” đến số điện thoại của người tên T ở thôn D, xã N, huyện U, thành phố Hà Nội (C không nhớ cụ thể số điện thoại của người này) để mua 50 viên ma túy ngựa với giá 1.550.000 đồng với mục đích cử dụng cho bản thân. T đồng ý và hẹn C ra khu vực cánh đồng thôn D để giao ma túy và nhận tiền và ma túy. C đi xe buýt từ nhà đến điểm hẹn. Sau khi mua được ma túy C tiếp tục đi xe buýt về nhà. Bản thân C đã sử dụng gần hết số ma túy trên còn lại 08 viên C đã gói vào tờ giấy bạc cất giữ ở nhà mình.

Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 21/8/2022, C đang ở nhà thì có 01 nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ, gọi điện bằng số điện thoại “0348707451” đến số máy của C là “0353141996” và hỏi có ma túy “ngựa” không bán cho nam thanh niên này 08 viên. C đồng ý và báo giá là 800.000 đồng, hẹn người thanh niên đến khu vực cổng bệnh viện Đa khoa huyện M để giao ma túy và nhận tiền. Sau đó, C lấy 01 gói giấy bạc bên trong có 08 viên ma túy “ngựa” để trong túi quần bên trái đi xe buýt từ nhà và xuống xe tại khu vực cổng chợ Đinh Xuyên, huyện U, thành phố Hà Nội, đi bộ qua cầu phao sang khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa huyện M. Đến nơi, C gọi điện thoại cho người thanh niên đến lấy ma túy và nhận tiền. Chưa gặp được người thanh niên đó thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ tang vật.

Tại Kết luận giám định số 5891/KL-KTHS ngày 29/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “08 viên nén màu hồng bên trong 01 bọc giấy bạc là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,721 gam./”

Ngày 21/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 40/LKX-CQĐT khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Văn C tại thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội, kết quả không phát hiện và thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Ngày 30/8/2022, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín số 40/LTG-CSĐT, thu giữ Bảng kê chi tiết các cuộc điện thoại gọi đi, gọi đến, tin nhắn. Thời gian từ 07 giờ 00 phút ngày 01/8/2022 đến 09 giờ 00 phút ngày 21/8/2022 và Thông tin chủ thuê bao với số thuê bao 0348707451, 0353141996, 0967950994 tại Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội.

Ngày 15/9/2022, Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội có C văn số 1880/CNVTQĐ-TTKT kèm theo Báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc thoại và SMS của thuê bao:

- Số thuê bao 0348707451: chủ thuê bao là Lê Xuân C, sinh ngày 11/01/1954, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội.

- Số thuê bao 0967950994: chủ thuê bao là Đỗ Xuân T, sinh năm 1971, địa chỉ: xóm U, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Số thuê bao 0353141996: chủ thuê bao là Đoàn Văn C, sinh năm 1996, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội.

Trong bảng kê chi tiết cuộc gọi, số 0353141996 không có trong danh sách cuộc gọi với số 0967950994. Ngày 21/8/2022, số thuê bao 0348707451 có liên hệ nhiều lần với số 0353141996, cụ thể: gọi đi 03 lần vào lúc: 08:23:14, 29 giây; 08:24:46, không hiện giây; 08:41:35, không hiện giây. Số 0353141996 gọi đến số 0348707451 hai lần vào lúc: 08:25:51, 20 giây; 08:43:50, 08 giây.

Cáo trạng số 82/CT-VKS-MĐ ngày 19/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố Đoàn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Đoàn Thị Thanh L đề nghị xin lại chiếc điện thoại Iphone XS max đã cho C mượn.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt Đoàn Văn C từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.

Trả lại cho chị Đoàn Thị Thanh L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng bên trong có gắn sim số.

Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: ngày 21/8/2022, tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện M, Đoàn Văn C có hành vi bán trái phép 0,721 gam ma túy Methamphetamine cho người đàn ông không rõ tên tuổi nhưng chưa kịp gặp người này để giao ma túy và nhận tiền thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cao cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy:

Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu di động nhãn hiệu Iphone XS xax, màu vàng, bên trong có gắn sim số thu giữ của Đoàn Văn C do bị cáo C mượn của em gái là Đàm Thị Thanh L, chị L không biết bị cáo sử dụng để mua bán ma túy nên trả lại cho Đàm Thị Thanh L theo quy định.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho C tên là T ở thôn D, xã N, huyện U, thành phố Hà Nội và nam thanh niên gọi điện mua ma túy của C, do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xác minh, xử lý là đúng.

Trong vụ án này còn có anh Lê Xuân C, sinh ngày 11/01/1954, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Ư, thành phố Hà Nội là chủ số thuê bao số 0348707451 khai không sử dụng, không đăng kí cho ai số thuê bao 0348707451 và không quen biết Đoàn Văn C. Đỗ Xuân T, sinh năm 1971, địa chỉ: xóm U, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên khai là chủ thuê bao 0967950994, hiện đang sử dụng, không cho ai mượn mà chỉ có anh sử dụng, anh Thành không quen biết với Đoàn Văn C nên không có căn cứ để xem xét, xử lý là phù hợp.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/8/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố Hà Nội, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và chữ ký, họ tên Đoàn Văn C.

Trả lại cho chị Đàm Thị Thanh L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, bên trong có gắn sim số.

Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/10/2022 giữa Công an huyện Mvà Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày tuyên án.

Cỡ chữ