- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lo Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lo Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2022/HS-ST Ngày 20 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vừ Y Xừ
Bà Thái Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại Hội trường Nhà văn hóa bản Hòa Sơn, xã Tà Cạ, huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lo Văn T, tên gọi khác: không;
Sinh ngày 03/3/1988 tại huyện KS, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản K, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lo Văn Q và bà Vi Thị H; vợ: Lô Thị X (đã ly hôn) con: có 1 con sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2022 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Công Th - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Vi Khăm H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản C, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Cáo trạng số 82/CT-VKS-KS ngày 06/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An thì bị cáo Lo Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lo Văn T đã thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với các tình tiết đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Khoảng 14 giờ, ngày 02/8/2022, Lo Văn T đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết từ nhà của mình ở Bản K, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An đi sang bản Đ, xã L, huyện TD, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến bản Đ, Lo Văn T xuống xe máy đi bộ một đoạn thì gặp một người thanh niên không quen, Lo Văn T hỏi “Có biết chỗ nào bán ma túy không?”, người thanh niên trả lời “Đi lên rừng có người bán”. Theo chỉ dẫn của người thanh niên đó, Lo Văn T đi lên rừng thì gặp một người đàn ông trung niên không quen biết, Lo Văn T hỏi “Có ma túy bán cho em hai trăm”, người đàn ông này trả lời "Có”. Lo Văn T lấy trong người ra 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông đó cầm lấy tiền rồi đưa lại cho Lo Văn T 01 (một) gói Heroine được gói bằng bao Potylen màu trắng có chữ viết. Sau khi mua được ma túy, Lo Văn T cất dấu ma túy vào trong người rồi tiếp tục đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết khác để về nhà. Khi về đến nhà, Lo Văn T lấy một ít ma túy vừa mua được ra sử dụng, số còn lại Lo Văn T gói lại như cũ, cất dấu ở đầu giường ngủ của mình với mục đích là để sử dụng.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 03/8/2022, Toàn đang ở nhà của mình tại Bản K, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã CL, huyện KS phối hợp với Công an xã Hữu Kiệm, huyện KS và Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại đầu giường ngủ của Lo Văn T 01 (Một) gói Potylen màu trắng có chữ viết, bên trong có chứa chất màu trắng (nghi là ma túy), Lo Văn T thừa nhận đó là ma túy heroine mà bị cáo đã mua về tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại được lập vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 03/8/2022 của Hội đồng mở niên phong Công an huyện KS, xác định: ““01 (Một) gói chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của Lo Văn T, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,25g (Không phẩy hai mươi lăm gam). Hội đồng đã trích 0,1 g (Không phẩy một gam) chất màu trắng (nghi là ma túy) để gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1061/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 08/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất màu trắng thu giữ của Lo Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất màu trắng thu giữ của Lo Văn T có khối lượng là 0,25 g (Không phẩy hai mười lăm gam).
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện KS đã thu giữ 0,25 gam Heroine (đã lấy giám định hết 0,1 gam Heroine, còn lại 0,15 gam Heroine). Hiện, số vật chứng trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện KS chuyển giao để bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lo Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lo Văn T mức án từ 14 (Mười bốn) đến 20 (Hai mươi) tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy của bị cáo đã bị thu giữ, giải quyết nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố. Như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 03/8/2022, tại khu vực Bản K, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An, bị cáo Lo Văn T bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 0,25 gam (Không phẩy hai mười lăm gam) ma túy heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm, ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức lối sống và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để mua bán trái phép làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xét xử bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự vì đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, mục đích tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng mà không có mục đích lợi nhuận, vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với các đối tượng bị cáo khai đã chở, chỉ đường và bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa chứng minh được lai lịch, địa chỉ cụ thể của những người này, vì vậy Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ được xử lý.
Vật chứng vụ án: Số ma túy (heroine) sau khi trích mẫu gửi giám định có khối lượng còn lại 0,15g (không phẩy mười lăm gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu được niêm phong lại bằng một phong bì thư màu trắng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện KS. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lo Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 03/8/2022).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng, góc trái phía bên trên có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH NGHỆ AN, CÔNG AN HUYỆN KS” được niêm phong, dán kín Trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên của hai đối tượng Lo Văn T và 05 dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện KS. Bên trong phong bì có chứa 0,15 gam (không phẩy mười lăm gam) ma túy heroine. Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2022.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lo Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện KS; - Công an huyện KS (Cơ quan điều tra, Cơ quan THA hình sự); - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - Chi cục THA dân sự huyện KS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |