vanban.org

Bản án 100/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 16/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết C tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:100/2021/HSST
Ngày 16/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM



TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và ông Quách Đình Mạnh

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2021/TLST- HS ngày 25/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2021/QĐXXST - HS ngày 02/12 /2021 đối với :

Bị cáo: Nguyễn Viết C, sinh ngày 26/6/1990; Giới tính: Nam

Nơi sinh và cư trú: Thôn H P, xã X P, huyện XTr, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Viết Th, Mẹ đẻ : Phạm Thị M, có vợ: Nguyễn Thị Th; Con : Có 01 con, sinh năm 2019.

Nhân thân: Từ tháng 3/2010 đến tháng 01/2012 tham gia nghĩa vụ quân sự. Ngày 14/02/2014 của Công an huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng pháo theo quyết định số 42/QĐ-XPHC đã chấp hành xong quyết định ngày 16/02/2014.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng.

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến :

1.Ông Đào Duy K, sinh năm 1972

Trú tại: Thôn Phong L Đ, xã ĐH, huyện Đ H, tỉnh Thái Bình

2. Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn Ph L Đ, xã Đ H, huyện Đ H, tỉnh Thái Bình

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào giữa tháng 8 năm 2021 C đến làm tại công trình xây dựng và ở trọ tại thôn Tống Thỏ Nam, xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/9/2021, sau khi làm xong việc tại công trình, C định đi bộ về nhà trọ, trên đường đi C gặp nam thanh niên tên là T đang đi xe mô tô ở khu vực đó. Tuấn là bạn C mới quen do cùng sử dụng ma túy với nhau trước đó. C không biết họ tên đầy đủ của T, không biết T cư trú ở đâu, cũng không nhớ nhãn hiệu, biển kiểm soát xe mô tô của T. Do có nhu cầu sử dụng ma túy và không có xe nên C hỏi T chỗ mua ma túy và nhờ T chở đi mua để sử dụng, Tđồng ý dùng xe mô tô của T chở C đi từ xã Đông Mỹ để tìm mua ma túy sử dụng. Do C mới sang Thái Bình làm, không thông thuộc địa bàn nên C không biết T chở C đến khu vực nào, chỉ biết đi khoảng 15 đến 20 phút thì C và T gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m60, T không nói tên, tuổi địa chỉ của người này nên C không biết. C xuống xe hỏi người đàn ông “Anh có hàng à, để em 200.000 đồng”, ý C hỏi mua 200.000 đồng heroin, người đàn ông đồng ý, Cương đưa tiền cho người này, còn người này đưa cho C 02 gói nhỏ ma túy. C cầm 2 gói ma túy bỏ vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, sau đó Tchở C đi tìm chỗ sử dụng. Đi được một đoạn C hỏi T thì được biết đây là địa phận huyện Đông Hưng. Đi đến khu vực cánh đồng gần Bệnh viện đa khoa huyện Đông Hưng thì T bảo C xuống xe đi bộ ra cánh đồng tìm nơi sử dụng trước còn T đi có việc, lát sẽ quay lại đón. T đi đâu, làm gì thì Ckhông rõ. Khi C đang đi bộ tại trục đường thôn Ph L Đ, xã Đ thì Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra về ma túy Công an huyện Đông Hưng phát hiện C có biểu hiện liên quan đến ma túy nên yêu cầu C dừng lại để kiểm tra. Đồng thời mời ông Đào Duy K, anh Phạm Ngọc T, đều trú tại thôn Ph LĐ, xã Đ H đến chứng kiến sự việc. Sau khi nghe tổ công tác giải thích quyền và nghĩa vụ, C đã tự nguyện lấy ra từ túi quần bên phải phía trước đang mặc giao cho Tổ công tác 02 gói nhỏ gồm: 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, 01 gói được gói bằng túi nilon màu đen lượt tiếp theo được gói bằng giấy trắng bên trong 02 gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. C khai là ma túy heroin cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong số ma túy C vừa giao nộp vào một phong bì thư, kiểm tra người C không thu giữ, gì thêm. Sau đó, đưa C về UBND xã Đông Hợp lập biên bản niêm phong vật chứng, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Viết C tại thôn Tống Thỏ Nam, xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhưng không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 343/KLGĐ-PC09 ngày 09/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại heroin, có khối lượng 0,1381 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm tám mươi mốt gam).

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 104/CT- VKSĐH ngày 24/11/2021 của viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo C phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng – 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị HĐXX xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/9/2021, tại trục đường thôn Phong Lôi Đông, xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1381 gam ma túy, loại heroin với mục đích sử dụng bị Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bắt quả tang.

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với cáo trạng số 104/CT - VKSĐH ngày 24/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 19 giờ 35 phút ngày 08/9/2021, phù hợp với Kết luận giám định343/KLGĐ-PC09 ngày 09/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Đào Duy K, anh Phạm Ngọc T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/9/2021, tại địa phận thôn Phong Lôi Đông, xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Viết C có hành vi tàng trữ trái 0,1381 gam ma túy (Không phẩy một nghìn ba trăm tám mươi mốt gam), loại hêroin với mục đích sử dụng bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

....

c. Heroin, cocain, methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11cos khối lượng từ 0,1gam đến 05 gam;

.....

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt hành chính về vi sử dụng pháo, bản thân bị cáo, biết tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và áp dụng mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[ 4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia quân đội nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng:

Số ma túy loại Heroin, thu giữ của C là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Về nguồn gốc ma tuý: C khai được Tuấn chở đi mua của người đàn ông nhưng không biết, tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với T là bạn đã sử dụng ma túy với C một lần,C cũng không biết họ tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ cụ thể của T nên không có căn cứ xử lý

Về số tiền 200.000 đồng dùng để mua ma túy là do C lao động mà có.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/9/2021.

3.Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,1273 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm bảy mươi ba gam) ma túy loại Heroin được niêm phong, trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật giám định, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 24/11/2021.

4.Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Viết C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 16/12/2021.

Cỡ chữ