- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Nguyên N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lại Nguyên N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2021/HSST Ngày: 02/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Đức Dũng
2/ Bà Thái Thị Thủy Tiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2021/TLST - HS ngày 08/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST - HS ngày 19/11/2021 đối với bị cáo:
Lại Nguyên N, sinh năm 1997, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông: Lại Quy N (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955 (còn sống); chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2009 bị Công an huyện X, tỉnh Đồng Nai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2021, đến ngày 27/10/2021 bị bắt tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đặng Trường H, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số 23 đường B, ấp T, xã H, Thành phố L, Đồng Nai.
- Người làm chứng:
+ chị Thạch Thị T, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ 1, khu phố S, thị trấn L, huyện C, Đồng Nai.
+ chị Dương Thị V, sinh năm 1965 (vắng mặt)
HKTT: ấp 1, xã X, huyện C, Đồng Nai.
- 1 -
Chỗ ở: ấp T, xã N, huyện C, Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lại Nguyên N là đối tượng nguyện ma túy từ năm 2020 đến nay. Vào lúc 08h00 ngày 05/8/2021 bị cáo N đã liên lạc bằng điện thoại di động với một đối tượng tên B (không rõ nhân thân lai lịch) ở phường X, TP L để hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá sử dụng cho nhu cầu cá nhân thì B đồng ý. Sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng, BKS: 60B6-738.07 đến địa điểm đã hẹn là khu vực nhà thờ X, phường X, TP L để gặp B lấy ma túy. Bị cáo ra điểm hẹn đứng chờ một lúc thì có một nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh (không rõ biển số) đến và đưa cho bị cáo N 01 bịch ma túy đá, bị cáo N cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần rồi đi về nhà.
Đến khoảng 12h00 cùng ngày, bị cáo N điều khiển xe mô tô trên đến thị trấn L, huyện C rủ bạn gái là Thạch Thị T, sinh năm 1992, nơi cư trú: khu phố S, Thị trấn L, huyện C đi nhà nghỉ L thuộc ấp T, xã N, huyện C để tâm sự. Khi đi bị cáo N đem số ma túy trên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đi vào nhà nghỉ nhằm mục đích sử dụng. Tại đây, bị cáo N và T thuê một phòng nghỉ (không số) đối diện phòng số 02. Sau khi vào phòng, T đi tắm còn bị cáo N nằm nghỉ trên giường. Một lúc sau thì lực lượng công an xã Nhân Nghĩa tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ L của bà Dương Thị V, sinh năm: 1965, HKTT: ấp 1, xã X, huyện C. Lúc này do sợ bị lực lượng công an phát hiện nên bị cáo N đã nhanh chóng lấy số ma túy cất giấu dưới nệm phòng nghỉ. Qua kiểm tra, lực lượng công an xã N phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma túy cùng bộ dụng cụ trên.
Kết luận giám định số 1660/KLGĐ- PC09 ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai kết luận mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2804 gam, loại Methamphetamine.
* Về vật chứng vụ án:
+ 0,2547 gam Methamphetamine (còn lại sau giám định) được niêm phong trong 01 phong bì kí hiệu số 1660/KLGĐ-PC09 ngày 13/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
+ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (nỏ, ống hút, hộp quẹt).
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu trắng, BKS: 60B6-738.07 do Đặng Trường H, sinh năm: 2000, nơi cư trú: số nhà 23 đường B, ấp T, xã H, Tp. L, tỉnh Đ đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định, H không biết việc bị
- 2 -
cáo N sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra quyết định trả lại đồ vật, tài liệu để trả lại chiếc xe trên cho Đặng Trường H theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKSCM ngày 05/11/2021, Viện Kiểm sát nhân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Lại Nguyên N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: vì muốn có ma túy để sử dụng bị cáo N đã mua ma túy của đối tượng tên B không rõ nhân thân lai lịch. Đến khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 05/8/2021, tại nhà nghỉ L thuộc ấp T, xã N, huyện C bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an xã N phát hiện bắt quả tang. Tại bản kết luận giám định số 1660/KLGĐ- PC09 ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai kết luận mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2804 gam, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo Lại Nguyên N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại
- 3 -
phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Từ những nhận xét, đánh giá nêu trên xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.
[4] Về vật chứng:
+ 01 gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, số 1660/KLGĐ-PC09 ngày 18/8/2021, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2547 gam loại Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (nỏ, ống hút, hộp quẹt) là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 xe mô tô biển số 60B6-738.07, nhãn hiệu Vario, màu trắng bị cáo N mượn của anh Đặng Trường H. Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý xong nên không xem xét.
[5] Đối với người tên “B” đã bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
[6] Đối với anh Đặng Trường H khi cho bị cáo N mượn xe mô tô biển số 60B6-738.07, nhãn hiệu Vario, màu trắng, anh H không biết bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên không phạm tội.
[7] Đối với bà Dương Thị V và chị Thạch Thị T trong quá trình điều tra xác định không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét, xử lý.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Lại Nguyên N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lại Nguyên N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/10/2021.
2. Vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,2547 gam Methamphetamine (còn lại sau giám định)
- 4 -
được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu số 1660/KLGĐ-PC09 ngày 18/8/2021, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (nỏ, ống hút, hộp quẹt).
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2021.
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện C; - VKSND huyện C; - THADS huyện C; - Hồ sơ thi hành án; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, án văn. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Trung |