- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố ị cáo Đỗ Minh H, Nguyễn Hoàng Đ, Nguyễn Đức Th và Ng Quyện T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2021/HS-ST. Ngày: 03-11-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng;
2/ Bà Bùi Thị Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2021/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Minh H, sinh năm 1996, tại Đồng Tháp, tên gọi khác: B; h khẩu thư ng trú: Tổ A, khóm B, Phư ng C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân t c: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình đ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Tài xế; giới tính: Nam; chưa có vợ, con; cha: Đỗ Minh H; mẹ: Lê Thị Thúy K; tiền án, tiền sự: Kh ng; Tạm giữ, tạm giam: Không; biện pháp ngăn ch n: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 2001, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: KD; h khẩu thư ng trú: Tổ A, khóm B, Phư ng C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân t c: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình đ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; chưa có vợ, con; cha: Nguyễn Hoàng C; mẹ: ê Thị Ngọc M; tiền án, tiền sự: Kh ng; Tạm giữ, tạm giam: Không; biện pháp ngăn ch n: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Nguyễn Đức Th, sinh năm 1993, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: Tẻo; h khẩu thư ng trú: Tổ A, khóm B, Phư ng C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân t c: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình đ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; Chưa có vợ con; cha: Nguyễn Văn T (Chết); mẹ: Nguyễn Thị ; tiền án, tiền sự: Kh ng; Tạm giữ, tạm giam: Không; biện pháp ngăn ch n: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Ngô Quyện T, sinh năm 1991, tại Đồng Tháp; h khẩu thư ng trú: Tổ A, khóm B, Phư ng C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; dân t c: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình đ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; Chưa có vợ, con; cha: Ngô Minh T; mẹ: Nguyễn Thị N; tiền án, tiền sự: Kh ng; Tạm giữ, tạm giam: Không; biện pháp ngăn ch n: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Các bị cáo có m t tại phiên tòa
- Ngư i làm chứng: Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1995, địa chỉ: Tổ 2, ấp TN, xã TNĐ, huyện CT, tỉnh Đồng Tháp (Vắng m t).
- Ngư i bào chữa: Ông Đ ng Hồng Đức, Luật sư thu c đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ (Có m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 gi 30 phút ngày 28/8/2020, Ng Quyện T điện thoại rủ Đỗ Minh H đến nhậu tại quán “Thắng Lợi”, thu c Phư ng 6, H mượn xe của dì ru t chạy đến thì có Th a và Nguyễn Hoàng Đ cùng Nguyễn Đức Th đang ngồi nH. Đến khoảng 11 gi cùng ngày, cả nhóm bàn bạc, thống nhất với nhau mỗi ngư i hùn 400.000 đồng mua ma túy đem đến Karaoke "King" tại số 812-814 Phạm Hữu u, tổ 51, khóm 5, Phư ng 6, thành phố Cao Lãnh thuê phòng hát và sử dụng ma túy. H s là ngư i đi mua ma túy, tiền mua ma túy với tiền Karaoke hết ao nhiêu, sau đó c ng lại chia đều, tất cả đồng ý.
Sau khi thống nhất với nhau, Đ chạy xe chở T và Th đến Karaoke King để thuê phòng trước. H liên lạc với 01 ngư i nam tên "Đồng" (không rõ họ nhân thân) để mua ma túy, "Đồng" hướng dẫn và chỉ H đến bụi cây bên lề phải g n Cống iữa ở Phư ng 6 lấy miếng khăn giấy quấn ịch nylon ên trong chứa ma túy, còn tiền mua ma túy 800.000 đồng trả sau. Hậu làm theo hướng dẫn đến nhận ma túy và đem xe về nhà trả cho dì ru t, rồi điện thoại cho Đ đến nhà chở Hậu đến Phòng số 22 Karaoke "King". Tại đây, T đưa t tiền Polyme 20.000 đồng cho Th cu n tròn quấn ên ngoài 03 đ u lọc thuốc lá làm ống hít. H đưa cho mỗi ngư i m t viên thuốc lắc màu hồng và để lên bàn bịch ma túy gói khăn giấy, Đ bẻ viên thuốc lắc làm hai, uống m t ph n và ph n còn lại để dưới cạnh bàn rồi bỏ đi ra ngoài. T và Th mỗi ngư i cũng ẻ viên thuốc lắc làm hai, uống m t ph n và ph n còn lại để dưới cạnh bàn. T kêu H để ma túy lên đĩa, H thấy trên bàn có sẵn đĩa nhựa màu trắng nên lấy 02 bịch ma túy đổ ra đĩa, còn lại 01 bịch để dưới cạnh bàn, H lấy thẻ nhựa card điện thoại có sẵn trên bàn rồi cà nhuyễn ma túy gọi là "xào Ke") và chia thành nhiều đư ng nhỏ gọi là "chỉ Ke"). Hậu lấy ống hít sử dụng ng cách để 01 d u vào lỗ mũi, lỗ mũi còn lại dùng tay ịt kín, 01 đ u ống hít để vào hít 01 chỉ "Ke", tiếp đến là T, Th cũng hít như Hậu. úc này, Đ cũng v a vào hít 01 chỉ rồi n m ngủ.
Đến 12 gi 35 phút cùng ngày, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã h i C ng an tỉnh Đồng Tháp thực hiện Kế hoạch số: 59/KH-PC06 ngày 14/7/2020 về việc mở đợt cao điểm tấn c ng trấn áp t i phạm, tiến hành kiểm tra quán Karaoke King phát hiện, nên áo Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố Cao ãnh phối hợp với C ng an Phư ng 6 đến lập iên ản ắt ngư i phạm t i quả tang lúc 13 gi cùng ngày, thu giữ tang vật như sau:
- Kiểm tra bên trong túi qu n phía trước ên phải Đ phát hiện: 01 ịch nylon màu trắng nắp kẹp chứa tinh thể rắn màu trắng Đ khai là ma túy được ạn cho ngày 27/8/2020), niêm phong trong phong ì ký hiệu "Al".
- Tại vị trí phía dưới m t àn cạnh Đ đang ngồi: 01 mảnh viên nén màu hồng Đ khai là thuốc lắc H đưa sử dụng). Mảnh viên nén ỏ vào ịch nylon màu trắng nắp kẹp viền màu đỏ, niêm phong trong phong ì ký hiệu "A2".
- Tại vị trí trên àn cạnh 04 ngư i ị ắt: 01 đĩa màu trắng ng nhựa, trên đĩa chứa chất t màu trắng tất cả đều khai là ma túy), chất t màu trắng cho vào ịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu "A3"; 01 thẻ nhựa, có ký tự “4 ” đã qua sử dụng; 01 t tiền 20.000 đồng được cu n tròn, ên ngoài quấn 03 đoạn giấy màu vàng đ u lọc thuốc lá điếu); 04 ịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ, đã qua sử dụng.
- Tại vị trí dưới m t àn cạnh H đang ngồi: 01 ịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ, ên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy), niêm phong trong phong ì ký hiệu "A4"; 01 đoạn ống nhựa màu trắng đã qua sử dụng.
- Tại vị trí dưới m t àn cạnh T đang ngồi: 02 mảnh viên nén màu hồng tất cả đều khai là ma túy). Bỏ 02 mảnh viên nén màu hồng vào ịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ rồi niêm phong trong phong ì ký hiệu "A5".
Tất cả phong ì niêm phong đều đóng dấu của C ng an Phư ng 6, có các chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Nguyễn Minh Dương, ngư i chứng kiến ông Đ ng Thái H và 04 ngư i bị bắt Nguyễn Đức Th, Ngô Quyện T, Đỗ Minh H, Nguyễn Hoàng Đ.
Kết luận giám định số: 817/K -KTHS ngày 31/8/2020 của Phòng k thuật hình sự- C ng an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng nắp kẹp viền trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A1" nêu trên gửi giám định, là ma túy Ketamine khối lượng 0,221gam; 01 mảnh viên nén màu hồng chứa trong bịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A2" nêu trên gửi giám định, là ma túy MDMA khối lượng 0,168gam; tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A3" nêu trên gửi giám định, là ma túy Ketamine khối lượng 0,448 gam; tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A4" nêu trên gửi giám định, là ma túy Ketamine khối lượng 0,378gam; 02 mảnh viên nén màu hồng chứa trong 01 bịch nylon màu trắng nắp kẹp viền đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A5" nêu trên gửi giám định, là ma túy MDMA khối lượng 0,288gam.
Như vậy: Tổng khối lượng chất ma túy Ketamine: 0,448g 0,378g = 0,826gam = 4,13%; tổng khối lượng chất ma túy MDMA: 0,168g 0,288g 0,456gam = 9,12%; tổng khối lượng 02 chất ma túy là 1,282gam, tổng ph n trăm 02 chất ma túy là 13,25 .
Khối lượng chất ma túy Ketamine của Nguyễn Hoàng Đ tàng trữ riêng trong túi qu n là 0,221gam 1,1 .
Phiếu trả l i kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm xá Công an tỉnh Đồng Tháp ngày 28/8/2020, kết luận: Hậu, Thiện, Đạt, T đều nghiện ma túy, loại Methamphetamine và thuốc lắc.
Tại cáo trạng số 58/CT-VKSTPCL, ngày 16/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố các bị cáo về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, t i phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 B luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như trên. Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Minh H t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Nguyễn Đức Th và Ngô Quyện T, mỗi bị cáo t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng đề nghị tuyên như cáo trạng đã nêu.
Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
L i bào chữa của Luật sư ào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ: Thống nhất với Kiểm sát viên về t i danh và điều luật áp dụng. Đề nghị H i đồng xét xử xem xét những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm t i trong hoàn cảnh đ c biệt khó khăn, ị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện t i phạm, phạm t i chưa gây thiệt hại, bị cáo Đ tuổi còn trẻ dể bị lôi kéo, bị cáo Đ phạm t i với vai trò thấp nhất, theo quy định tại điểm g, h, t, s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Ngoài ra, thì bị cáo Đ nh H mua ma túy h nên chỉ chịu m t ph n ma túy của bị cáo Đ. T đó, đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 B luật hình sự xử phạt bị cáo Đ dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo th a nhận hành vi phạm t i, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của các bị cáo bị truy tố: Các ị cáo H, Đ, Th và T đều nghiện ma túy nên cả 04 cùng thống nhất hùn tiền lại với nhau mua ma túy sử dụng chung, nên ngày 28/8/2020, Hậu mua ma túy đem đến Phòng 22 Karaoke "King" thu c tổ 51, khóm 5, Phư ng 6, thành phố Cao ãnh, để cùng nhau sử dụng. Đến 13 gi ngày 28/8/2020, thì ị lực lượng C ng an tiến hành kiểm tra, phát hiện lập iên ản ắt ngư i phạm t i quả tang 04 ị cáo cùng đang tàng trữ 0,456gam ma túy MDMA và 0,826gam ma túy Ketamine, tổng ph n trăm 02 chất ma túy là 13,25%. Ngoài ra, bị cáo Đ còn tàng trữ riêng 0,221gam ma túy Ketamine, tổng ph n trăm 02 chất ma túy của Đạt là 14,35%.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo th a nhận hành vi phạm t i phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của B luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.
Các bị cáo đều là ngư i đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, các bị cáo đã thực hiện hành vi cất dấu 0,456gam ma túy MDMA và 0,826gam ma túy Ketamine, tổng ph n trăm 02 chất ma túy là 13,25%, ngoài ra Đ còn cất dấu riêng 0,221gam ma túy Ketamine. Hành vi của các bị cáo là cố ý xâm phạm trực tiếp đến chính sách đ c quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã h i.
T những căn cứ nêu trên, H i đồng xét xử kết luận hành vi phạm t i của các bị cáo đã phạm vào t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, t i phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 B luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm t i, các bị cáo nhận thức rất rõ ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã h i khác, ảnh hưởng rất lớn đến đ i sống của mỗi con ngư i, mỗi gia đình và toàn xã h i. Chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu c u cá nhân mà các bị cáo đã ất chấp pháp luật, bất chấp H quả do hành vi của mình gây ra cho xã h i. Do đó c n có mức án tương xứng với tính chất, mức đ nguy hiểm cho xã h i của hành vi phạm t i mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian, nh m cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành ngư i công dân tốt và răn đe, phòng ng a chung cho toàn xã h i.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các ị cáo không có sự phân công, tổ chức thực hiện, nên các bị cáo đều chịu trách nhiệm hình sự như nhau. Tuy nhiên, bị cáo H là ngư i đề xuất, rủ rê các bị cáo khác nên phải chịu mức hình phạt n ng hơn các ị cáo khác trong vụ án.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm t i các bị cáo đều có thái đ thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự.
Đối với ngư i tên "Đồng" là ngư i án ma túy cho H, theo l i khai của H kh ng rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ s xử lý sau.
Xét l i bào chữa của ngư i bào chữa cho bị cáo Đ: Như đã phân tích trên, l i bào chữa của Luật sư là có căn cứ m t ph n đối với tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, năn năn hối cải.
Đối với đề nghị của Luật sư đề nghị các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo phạm t i trong hoàn cảnh đ c biệt khó khăn, ị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện t i phạm. H i đồng xét xử xét thấy, bị cáo không thu c trư ng hợp đ c biệt khó khăn và cũng kh ng thu c trư ng hợp tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm mà bị cáo đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai áo, năn năn hối cải. Đối với tình tiết phạm t i chưa gây thiệt hại, xét thấy các bị cáo phạm t i đã hoàn thành, kh ng thể đánh giá chưa gây thiệt hại. Đối với l i bào chữa bị cáo Đ nh H mua ma túy h nên chỉ chịu m t ph n ma túy của bị cáo Đ, xét thấy các bị cáo hùn tiền mua ma túy sử dụng chứ không phải trư ng hợp nh mua h ma túy. Đối với việc Luật sư đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, xét thấy tình hình t i phạm về ma túy hiện nay đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng rất lớn đến đ i sống xã h i, nếu cho bị cáo Đ được hưởng án treo s ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã h i.
Về hình phạt tiền: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, th i gian qua bị ảnh hưởng bởi tình hình dịch bệnh coviv 19, nên không áp dụng phạt bổ sung.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 B luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu n p ngân sách Nhà nước c ng cụ sử dụng vào việc phạm t i gồm: 01 (m t) t tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, được cu n lại, bên ngoài quấn 03 đoạn giấy màu vàng (loại giấy dùng trong đ u lọc thuốc lá điếu), đã qua sử dụng;
Tịch thu tiêu hủy những vật cấm, sử dụng vào việc phạm t i kh ng có giá trị, gồm: Phong ì chứa chất ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong ký hiệu: 841/A1; 841/A2; 841/A3; 841/A4; 841/A5 cùng ngày 28/8/2020, tất cả đóng dấu tròn đỏ của Phòng K thuật hình sự - C ng an tỉnh Đồng Tháp, có các chữ ký ghi họ tên: ê Minh V, ê Thanh B, Võ Thành C, Nguyễn Đức Th, Ng Quyện T, Đỗ Minh H, Nguyễn Hoàng Đ; 01 thẻ b ng nhựa, có ký tự “4 " đã qua sử dụng; 04 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ đã qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đĩa màu trắng b ng nhựa, đã qua sử dụng.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thư ng vụ Quốc h i.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và 58 B luật Hình sự.
- Tuyên bố ị cáo Đỗ Minh H, Nguyễn Hoàng Đ, Nguyễn Đức Th và Ng Quyện T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Minh H 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn tù tính t ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Th 01 (m t) năm tù. Th i hạn tù tính t ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Xử phạt bị cáo Ngô Quyện T 01 (m t) năm tù. Th i hạn tù tính t ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 01 (m t) năm tù. Th i hạn tù tính t ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 B luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu n p ngân sách Nhà nước c ng cụ sử dụng vào việc phạm t i gồm: 01 (m t) t tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, được cu n lại, bên ngoài quấn 03 đoạn giấy màu vàng (loại giấy dùng trong đ u lọc thuốc lá điếu), đã qua sử dụng;
Tịch thu tiêu hủy những vật cấm, sử dụng vào việc phạm t i kh ng có giá trị, gồm: Phong ì chứa chất ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong ký hiệu: 841/A1; 841/A2; 841/A3; 841/A4; 841/A5 cùng ngày 28/8/2020, tất cả đóng dấu tròn đỏ của Phòng K thuật hình sự - C ng an tỉnh Đồng Tháp, có các chữ ký ghi họ tên: ê Minh V, ê Thanh B, Võ Thành C, Nguyễn Đức Th, Ng Quyện T, Đỗ Minh H, Nguyễn Hoàng Đ; 01 thẻ b ng nhựa, có ký tự “4 " đã qua sử dụng; 04 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp, có viền màu đỏ đã qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đĩa màu trắng b ng nhựa, đã qua sử dụng.
Vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao ãnh tạm quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2021.
- Về án phí: Các bị cáo H, Đ, Th và T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo đều có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TPCL;
- Công an TPCL;
- Đương sự;
- ưu.
Đinh Tấn Hiếu
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Công an TPCL; - ưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |