vanban.org

Bản án 100/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 04/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2021/HSST ngày 30-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy về phần hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 14 tháng 6 năm 2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2021/HSST ngày 30-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2021/HS-PT
Ngày: 04 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Văn Tùng.

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoài Nam.

Ông Vũ Hà Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh

Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 100/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2021/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy.

- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 06-6-1983 tại huyện N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn Đồng Quỹ, xã X, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1951 và bà Đỗ Thị T (đã chết); tiền án, tiền sự: không; có vợ Nguyễn Thị P, sinh năm 1986; bị cáo có 03 con; bị tạm giữ từ ngày 14-6-2021, chuyển tạm giam từ ngày 17-6-2021 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 13-6-2021, tổ tuần tra Đồn Biên phòng Quất Lâm, Bộ đội biên phòng tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Lâm Hoan, xã G, huyện M, tỉnh Nam Định phát hiện Nguyễn Văn D đang đi bộ một mình tại trục đường liên xóm, có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với D. Quá trình kiểm tra, D đã tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc giao nộp cho tổ tuần tra 12 gói nhỏ đều được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, D khai nhận đó là Heroine của D cất giấu để sử dụng cho bản thân, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M.

Tại bản kết luận giám định số 800/GĐKTHS ngày 14-6-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 12 (mười hai) gói giấy bạc màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 4,571 gam”.

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Nam Định đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma tuý, D khai mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực chợ Giao Tiến, huyện Giao Thủy với giá 4.000.000 đồng để sử dụng, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ đối tượng đã bán ma tuý cho D.

Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2021/HS-ST ngày 30-8-2021 của Toà án nhân dân huyện M, đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 14-6-2021.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.

Ngày 13-9-2021, bị cáo Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án sơ thẩm xét xử tôi về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội nhưng với mức án như vậy là quá nặng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét giảm nhẹ một phần hình phạt để tôi sớm trở về tái nhập cộng đồng.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo trình bày lý do kháng cáo, bố bị cáo hiện nay tuổi cao, già yếu, bị cáo đang phải nuôi 3 con nhỏ, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D; căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 22 giờ, ngày 13-6-2021, tại khu vực trục đường liên xóm thuộc xóm Lâm Hoan, xã Giao Phong, huyện M, tỉnh Nam Định, tổ tuần tra Đồn Biên phòng Quất Lâm, Bộ đội biên phòng tỉnh Nam Định bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 4,571 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, qua quá trình tranh tụng tại phiên toà. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi mà bị cáo thực hiện.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định bị cáo tàng trữ số lượng ma túy nhiều, theo quy định của điều luật thì chỉ tàng trữ từ 0,1 gam trở lên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm trong khi bị cáo tàng trữ số ma túy là 4,571 gam Heroine; Bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào để Hội đồng xét xử có căn cứ xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Như vậy, không có lý do gì để thay đổi quyết định của bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2021/HSST ngày 30-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy về phần hình phạt.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 14 tháng 6 năm 2021.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

(Đã ký) Lê Hoài Nam

Vũ Hà Nam

Lại Văn Tùng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ