- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn thị Thủy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 100 /2020/ HSST Ngày: 07/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Ngọc Lợi;
- Bà Hoàng Thị Kim Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hảo- Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84 /2020/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: ( Không); sinh năm 1991 tại thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Nơi ĐKNKTT: Thôn Tân T1, xã Quang S, thành phố Tam Đ, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở: Phố H, phường N, thành phố N, tỉnh N; nghề nghiệp; Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: V nam; con ông: Nguyễn Văn M ( đã chết); con bà: Đàm Thị K; Chồng: Không có; con: 02 con; Tiền án: Ngày 29/9/2015 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma Túy”. Bị cáo chấp hành xong ngày 08/02/2018; Tiền sự: không.
Lịch sử bản thân: Ngày 17/02/2012, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tuyên phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2020, đến ngày 12/02/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lâm Quốc T2, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn Tùy Hối , xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. ( Vắng mặt)
Anh Vũ Đức V- sinh năm 1989; địa chỉ: phố Hàn Thuyên, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang tạm giam tại công an tỉnh Ninh Bình trong vụ án khác. ( Có mặt)
Người làm chứng:
Ông Tống Minh T3, sinh năm 1955; ( Vắng mặt)
Ông Phạm Đức T4, sinh năm 1958; ( Vắng mặt)
Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985; ( Vắng mặt)
Anh Phạm Thanh H2 sinh năm 1957; ( Vắng mặt)
Ông Vũ Văn M sinh năm 1954. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T là đối tượng nghiện ma túy; từ tháng 11 năm 2019 đến khi bị bắt, T sống chung như vợ chồng với Vũ Đức V sinh năm 1989 tại số nhà 114, đường C, phố H, phường N, thành phố N cùng với ông Vũ Văn M là bố đẻ của V. Khoảng 15 giờ ngày 02/02/2020, Nguyễn Thị T thuê xe taxi đi từ nhà của V đến một ngôi nhà trên mặt đường Quốc lộ 10 thuộc thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để mua ma túy. Tại đây, T đưa 200.000 đồng qua lỗ cửa nhỏ của ngôi nhà thì có người trong nhà cầm tiền và đưa lại cho T một Túi ma túy đá được gói ngoài bằng Túi nilon màu trắng, bên trong là chất tinh thể dạng cục màu trắng. Mua được ma Túy T cất giấu vào Túi áo khoác đang mặc rồi lên xe đi về nhà V, sau đó T cởi áo khoác có chứa túi ma túy đá treo ở móc quần áo trong phòng ngủ của V. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/02/2020, khi T đang ngồi chơi một mình ở phòng khách tầng một nhà V thì Lâm Quốc T2 sinh năm 1976, trú tại thôn T5, xã G, huyện Gia V, tỉnh Ninh Bình một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh, biển kiểm soát 35N2 - 1734 đến nhà V tìm T để mua ma túy. Gặp T, T2 hỏi mua 300.000 đồng ma Túy đá, T đồng ý. T2 đưa cho T 300.000 đồng, T nhận tiền rồi vào trong phòng ngủ của V lấy ở Túi áo khoác của mình 01 Túi ma túy đá mà T mua từ chiều ngày 02/02/2020 để bán cho T2. Khi T vừa ra đến cửa thì thấy lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính nên đã thả gói ma túy đá từ trên tay xuống nền nhà ngay gần chân T đứng, còn T2 thì bỏ chạy. Tổ công tác thu giữ trên tay trái của T số tiền 300.000 đồng, gồm 01 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng; thu giữ tại sàn nhà ngay mép cửa cạnh chân T đứng 01 Túi nilon màu trắng bên trong có chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác tiến hành niêm phong túi ma túy và số tiền vào hai phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh, biển kiểm soát 35N2 - 1734 ở trước cửa nhà V. Sau đó đưa T cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Công an phường Nam Bình để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Thị T tại số nhà 114, đường C, phố H, phường N, thành phố Ninh Bình. Tại thời điểm khám xét trong nhà có ông Vũ Văn M và Vũ Đức V. Quá trình khám xét thu giữ: Trong ngăn tủ phía dưới bên trái tủ để ti vi được kê trong phòng khách tầng một: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai T tinh màu xanh lá cây cao khoảng 20cm, miệng chai có gắn một đầu chia T tinh có cắm một cóng T tinh, phần vòi chia gắn ống hút nhựa dài khoảng 40 cm. Thu giữ trên mặt bàn uống nước trong phòng khách tầng một 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu bạc; Thu giữ trên mặt giường kê trong phòng ngủ tầng một: 02 chiếc điện thoại di động, một chiếc nhãn hiệu Samsung màu đồng, 01 chiếc nhãn hiệu Q-Mobile màu đen; Thu trong ngăn tủ trên cùng tủ nhựa kê ở cuối giường trong phòng ngủ: 01 hộp bìa catton màu xanh đen mặt hộp có chữ JEMMIA, bên trong hộp có một hộp nhựa màu trắng hình trụ tròn, trong hộp nhựa có chứa: 03 túi ni long màu trắng, trong đó có 2 túi đều có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi bên trong có chứa 04 túi nilon nhỏ màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ trong hộp nhựa hình trụ tròn 30 túi nilon màu trắng (gồm 15 T2i, miệng túi có viền màu xanh và 15 túi dính liền với nhau) bên trong không có gì. Ngay sau khi khám xét, Vũ Đức V đã đầu thú về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thừa nhận toàn bộ số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét cùng toàn bộ số đồ vật thu giữ tại nhà V trong quá trình khám xét là của V, trừ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu bạc là của Nguyễn Thị T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Đức V về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thụ lý giải quyết trong một vụ án khác.
Tiến hành cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng trong gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Thị T có khối lượng là 0,230 gam, ký hiệu M1 gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 63/KLGĐ - PC09 - MT ngày 08/02/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2307 (không phảy hai nghìn ba trăm linh bảy) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn trả lại đối tượng giám định gồm 0,1522 (không phảy một nghìn năm trăm hai mươi hai) gam chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong.
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 21/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma Túy”.
2. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Thị T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03 tháng 02 năm 2020.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền 5 triệu đồng đến 7 triệu đồng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 01 phong bì thư dán kín, niêm phong dán kín theo quy định của pháp luật. Bên ngoài ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 63/KLGĐ-PC09-MT
01phong bì thư niêm phong dán kín theo quy định của pháp luật ký hiệu T2
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: số tiền 300.000đ là số tiền mà bị cáo nhận của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa cho bị cáo để mua ma túy.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326 của UBTVQH bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma T2y cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lâm Quốc T2 để kiếm lời, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố mà bị cáo Hồi 11 giờ 30 phút ngày 03/02/2020, tại số nhà 114, đường C, phố H, phường N, thành phố Ninh Bình. Bị cáo Nguyễn Thị T đang ngồi ở ghế phòng khách nhà Vũ Đức V thì thấy anh Lâm Quốc T2 gõ cửa đang đứng ở cửa nhà, anh T2 bảo mua ma túy và đưa cho bị cáo 300.000đ sau khi bị cáo cầm tiền thì đi vào trong nhà móc túi áo khoác của bị cáo để lấy gói ma túy mang ra bán cho anh T2 khi bị cáo mang ra tới cửa thì cơ quan công an bắt quả tang lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lâm Quốc T2 và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang và các bản tự khai của bị cáo từ ngày 03/2/2020 đến ngày 19/2/2020 nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 03/02/2020, tại số nhà 114, đường C, phố H, phường N, thành phố Ninh Bình. Bị cáo Nguyễn Thị T đã có hành vi bán trái phép 0,2307 gam Methamphetamine cho anh Lâm Quốc T2 được 300.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy đinh tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Nên cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình truy tố là có căn cứ đúng pháp luật.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma T2y
1. Người nào mua bán trái phép chất ma T2y, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
……………………..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, không những thế hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thị T tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định Bộ luật hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và truy tố thì bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán của mình với anh Lâm Quốc T2 nên khi xem xét thì Hội đồng xét xử đánh giá một phần mức độ thành khẩn của bị cáo.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị T đã có 01 tiền án Ngày 29/9/2015 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/2/2018 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, do vậy bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo:
Ngày 17/02/2012, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tuyên phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” đối với bị cáo Nguyễn Thị T.
Về nhân thân, bị cáo có án tích tuy đã được đương nhiên xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo là người đã vi phạm pháp luật, không lấy đó làm bài học để tự cải tạo, tu dưỡng mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức án tương xứng để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội và cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là người nghiện ma túy, không có chồng nuôi hai con còn nhỏ, không có công việc ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Các vấn đề khác:
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu bạc. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên là tài sản riêng của T, T không sử dụng chiếc điện trên vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị Nguyễn Thị Hằng sinh năm 1985, trú tại thôn Tân T1, xã Quang S, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình là người được Nguyễn Thị T ủy quyền là có căn cứ đúng quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh, biển kiểm soát 35N2 - 1734. Quá điều trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của anh Phan Thanh Hải sinh năm 1957, trú tại xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Buổi sáng ngày 03/02/2020 T2 mượn xe của anh Hải đi có việc, anh Hải không biết việc T2 sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe trên cho anh Hải là chủ sở hữu là có căn cứ, đúng quy định.
Đối với Lâm Quốc T2 là người đã đến hỏi mua ma túy của Nguyễn Thị T để sử dụng, tuy nhiên T2 chưa mua được ma túy của T do đó không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T2.
Đối với người lái xe taxi đã chở T đi mua ma túy, T không xác định được tên tuổi địa chỉ của người lái xe taxi và đặc điểm của chiếc xe taxi do đó không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
Đối với ông Vũ Văn Mạnh và Vũ Đức V là người sống cùng với T tại số nhà 114, đường Nguyễn Công Trứ, phố Hàn Thuyên, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình. Quá trình điều tra xác định ông Mạnh và V không biết việc T đi mua ma T2y về cất giấu trong phòng ngủ của V và cũng không biết việc T bán ma túy cho T2 nên không liên quan.
Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một người không quen biết trong một ngôi nhà ở mặt đường Quốc lộ 10 thuộc thôn D, xã B, huyện Ý , tỉnh Nam Định. Do T không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người bán ma túy và không nhớ địa chỉ cụ thể, đặc điểm nhận dạng của ngôi nhà đã đến mua ma túy nên không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 01 phong bì thư dán kín, niêm phong dán kín theo quy định của pháp luật. Bên ngoài ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 63/KLGĐ-PC09-MT
01phong bì thư niêm phong dán kín theo quy định của pháp luật ký hiệu T2
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: số tiền 300.000đ là tiền mà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã đưa cho bị cáo để mua ma túy.
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị T 27 (Hai mươi Bẩy) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03 tháng 02 năm 2020
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín, niêm phong theo quy định pháp luật. Bên ngoài ghi : Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 63/KLGĐ-PC09-MT.
01 phong bì thư niêm phong dán kín theo quy định của pháp luật, ký hiệu T2
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 300.000đ là số tiền mà bị cáo nhận của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lâm Quốc T2 mua ma túy.
Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/ 6/2020 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình. Theo ủy nhiệm chi lập ngày 11/6/2020 của cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình chuyển vào tài khoản: 3949.0.9089763.00000 tại Kho bạc nhà nước tỉnh Ninh Bình.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB - VKSND- TPNB - Bị cáo - VKSND tỉnh NB - Công an thành phố NB - - Trại tạm giam - Thi hành án dân sự TPNB - Sở tư pháp - - Lưu | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Lâm Thị Thanh Nhàn |