- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2020/HSST ngày 21/7/2020 đối với bị cáo Phạm Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Văn Th 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 17/4/2020).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆAN Bản án số: 100/2020/HS-ST Ngày: 21/7/2020 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bạch Hưng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Minh Phương và ông Cao Đức Giang.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại Nhà văn hóa xóm Xuân Đình, xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 130/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Th, (tên gọi khác: không); sinh ngày 12 tháng 10 năm 1999 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 1, xã QC, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Pham Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2020 đến nay (có mặt).
Ngƣời làm chứng: anh Võ Trọng D, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Trú tại: xóm 1, xã QC, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 16/4/2020, Phạm Văn Th đi xe máy từ nhà đến ngã ba T thuộc huyện Q, tỉnh Nghệ An chở Võ Trọng D đi chơi. Khi đi đến cổng chào xóm 2, xã DL, huyện D, tỉnh Nghệ An, Th bảo D xuống xe đứng chờ còn Th đi đến khu vực gần Công ty may P thuộc xóm 1, xã DL gặp Ngô Hồng L (sinh năm 1981, trú tại xóm 1, xã DL, huyện D, tỉnh Nghệ An) để mua ma túy. Th đưa cho L 300.000 đồng nhờ L mua 200.000 đồng ma túy và trả công cho L 100.000 đồng. L cầm tiền đi một lúc rồi quay lại đưa cho Th 01 gói được bọc bằng mảnh giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng để trong vỏ bao thuốc lá hiệu SEABIRD, Th nhận ma túy rồi quay lại đón D.
Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi Th đang điều khiển xe máy chở D đi đến khu vực xóm 2, xã DL thì bị Tổ công tác Công an huyện D phối hợp với Công an xã DL kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần trước bên trái Th đang mặc gói chất bột màu trắng nói trên cùng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển kiểm soát 37L2-33185 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 17/4/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn Th có khối lượng 0,1 gam.
Tại kết luận giám định số 530/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 22/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn Th gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin), có khối lượng 0,1 gam.
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSDC-HS ngày 01/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố Phạm Văn Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn Th từ 12 tháng đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Phạm Văn Th;tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động Nokia đã qua sử dụng; trả lại cho Phạm Văn Th chiếc xe máy YAMAHA vì không liên quan đến tội phạm.
Bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: tại phiên toà, Phạm Văn Th hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/4/2020, tại khu vực xóm 2, xã DL, huyện D, tỉnh Nghệ An, bị cáo Phạm Văn Th đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác và sự duy trì nòi giống của dân tộc. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Trong tình hình hiện nay, tội phạm về ma tuý trên địa bàn huyện nhà xảy ra nhiều với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Vì thế cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Đồng thời việc đưa vụ án ra xét xử lưu động là cần thiết nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của công dân; từng bước đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống của cộng đồng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không vì mục đích vụ lợi. Theo tài liệu điều tra thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,1 gam ma túy Hêrôin thu giữ của Phạm Văn Th đã sử dụng hết để giám định. Mảnh giấy màu trắng dùng để gói ma túy là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển kiểm soát 37L2-33185 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phạm Văn Th, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo.
Riêng chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, quá trình điều tra không tìm thấy thông tin về nhật ký cuộc gọi cũng như tin nhắn. Nhưng tại phiên tòa bị cáo khẳng định đã sử dụng điện thoại này liên lạc với Ngô Hồng L để mua ma túy. Vì vậy, đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Đối với Ngô Hồng L là người Phạm Văn Th nhờ mua ma túy và nhận tiền công 100.000 đồng, quá trình điều tra xác minh Ngô Hồng L không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn Th 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 17/4/2020).
- Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa 01 mảnh giấy màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong ban đầu để tiêu hủy.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng.
Trả lại cho Phạm Văn Th 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển kiểm soát 37L2-33185 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số NK 00094 ngày 01/7/2020.
Án phí: Bị cáo Phạm Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND huyện D; - THA Hình sự huyện D; - THA Dân sự huyện D; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Bạch Hƣng Thành |