vanban.org

Bản án 100/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 ví màu đen, 01 cân điện tử màu nâu; 20 vỏ túi nilon kích thước 2 x 2cm màu trắng có mép đóng mở màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa. Tịch thu nộp ngân sách Nhà 01 điện thoại di động Ipho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Tùng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2020/HS-ST
Ngày 22-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Bình

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh ngày 23 tháng 12 năm 199X tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh T và bà Trần Ngọc H; bị cáo có vợ Đồng Thùy D và 01 con; tiền sự, tiền án, nhân thân: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 14/02/2020, tạm giam ngày 17/02/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 13/02/2020, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân kết hợp với Đội 2 Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm về ma túy số 1 Bộ tư lệnh Cảnh sát biển làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực ngõ 46 Lạch Tray, quận Lê Chân, Hải Phòng thì phát hiện Trần Thanh T đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ, kích thước 8 x 10 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (mẫu QT). Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại Iphone màu trắng, số tiền 1.000.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại số 03/51/46 Lạch Tray, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, Hải Phòng, thu giữ: Trên đệm ngồi trong phòng ngủ có 01 ví màu đen kích thước 5 x 7 cm, bên trong có 01 cân điện tử màu nâu, 03 túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ, kích thước 2 x 2 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX 1). Thu trong 01 túi nilon màu đen ở góc phòng ngủ, bên cạnh đệm ngồi có 01 túi nilon màu trắng, kích thước 6 x 8 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng vàng và 02 túi nilon màu trắng, kích thước 2 x 2 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng vàng (mẫu KX 2); 20 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ, kích thước 2 x 2 cm. Ngoài ra, còn thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa; 01 điện thoại Nokia 1202, 01 điện thoại H-mobile.

Tại Kết luận giám định số 69, 70/KLGĐ ngày 17/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tinh thể (mẫu QT) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 16,62 gam, là loại Methamphetamine. Tinh thể của mẫu KX 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,87 gam, là loại Methamphetamine. Tinh thể của mẫu KX 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 6,48 gam, là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 13/02/2020, T ở nhà gọi điện đến số thuê bao 0795.319.024 của 01 người nữ giới là “bà Mụ” (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy đá và hẹn giao ma túy đá ở nhà T. Đến 9 giờ 30 phút cùng ngày, “bà Mụ” cầm 01 túi nilon chứa ma túy đá đến nhà giao cho T. Sau khi mua được ma túy của “bà Mụ”, T cầm vào cất giấu trong nhà với mục đích để sử dụng và bán nếu có người hỏi mua còn “bà Mụ” đi đâu T không biết. Từ khoảng thời gian 12 giờ đến 14 giờ cùng ngày, T đã hai lần bán ma túy đá được lấy ra từ số ma túy trên cho 02 người nam giới (không biết họ tên, địa chỉ) với số tiền là 300.000 đồng và 200.000 đồng. Số tiền thu được từ việc bán ma túy là 500.000 đồng có trong số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của T. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T cầm theo 01 túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ, kích thước 8 x 10 cm, bên trong chứa ma túy đá vừa mua của “bà Mụ” cất giấu vào túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ ra đầu ngách 51/46 Lạch Tray thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Chiếc cân điện tử bị thu giữ, T dùng chia nhỏ ma túy để bán.

Đối với số ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp, T mua của “bà Mụ” khoảng 15 ngày trước ngày 13/02/2020. Mặc dù T thấy ma túy có chất lượng kém nhưng vẫn để lại với mục đích vừa để sử dụng cho bản thân vừa để bán kiếm lời phòng khi việc mua ma túy gặp khó khăn.

Về vật chứng: 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 1202; 01 điện thoại di động H-mobile; 01 ví màu đen; 01 cân điện tử màu nâu; 20 vỏ túi nilon kích thước 2 x 2cm màu trắng có mép đóng mở màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa và số tiền 1.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 17/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T với mức án từ 12 đến 13 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 ví màu đen; 01 cân điện tử màu nâu; 20 vỏ túi nilon kích thước 2 x 2cm màu trắng có mép đóng mở màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone màu trắng. Trả lại cho bị cáo 500.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia 1202; 01 điện thoại di động H-mobile. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Thanh T đã có hành vi cất giữ trái phép 23,97 gam Methamphetamine để bán cho người khác kiếm lời. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Trước ngày 13/02/2020, bị cáo Trần Thanh T đã có hành vi mua 7,35 gam Methamphetamine cất giữ với mục đích để bán và sử dụng, ngày 13/02/2020 bị cáo mua 16,62 gam Methamphetamine và đã bán 02 lần trong ngày được số tiền 500.000 đồng, tổng khối lượng ma túy là 23,97 gam Methamphetamine. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Methamphetamine… có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 ví màu đen; 01 cân điện tử màu nâu; 20 vỏ túi nilon kích thước 2 x 2cm màu trắng có mép đóng mở màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà 01 điện thoại di động Iphone màu trắng có số IMEL 357341090521110 và 500.000 đồng là phương tiện và tiền dùng cho việc mua bán ma túy.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 1202 có số IMEL 356033036045640, 01 điện thoại di động H-mobile dạng bàn phím có số IMEL 354497228808885 và 500.000 đồng vì không phải là phương tiện phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ 500.000 đồng để đảm bảo thi hành án về phần án phí.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với 02 người nam giới đã mua ma túy của T vào khoảng thời gian từ 12 giờ đến 14 giờ ngày 13/02/2020, T không biết họ tên, địa chỉ của 02 người này. Ngoài lời khai của T, không có tài liệu, chứng cứ khác nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra.

Đối với người phụ nữ giới đã bán ma túy cho T, T khai chỉ biết người nữ giới gọi là “bà Mụ”, không biết họ tên, địa chỉ của người nữ giới này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số thuê bao 0795.319.024. Kết quả: Chủ thuê bao là Hoàng Văn Điệp, sinh năm 2001, địa chỉ: xã Bình Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ghi lời khai của Điệp, Điệp khai không đăng ký và không sử dụng số thuê bao 0795.319.024. Vì vậy, cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Thanh T 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 14/02/2020.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 ví màu đen, 01 cân điện tử màu nâu; 20 vỏ túi nilon kích thước 2 x 2cm màu trắng có mép đóng mở màu đỏ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng chai nhựa.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà 01 điện thoại di động Iphone màu trắng có số IMEL 357341090521110 và 500.000 (năm trăm nghìn) đồng là phương tiện và tiền dùng cho việc mua bán ma túy.

+ Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T 01 điện thoại di động Nokia 1202 có số IMEL 356033036045640 và 01 điện thoại di động H-mobile dạng bàn phím có số IMEL 354497228808885 và 500.000 đồng theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 17/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nhưng tiếp tục tạm giữ 500.000 (năm trăm nghìn) đồng để đảm bảo thi hành phần án phí, số tiền còn thừa trả lại cho bị cáo.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trần Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ