- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn Toàn- TTPTCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 100/2020/HS-ST Ngày 29/12 /2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Đặng Viết Côi, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội;
Bà Nguyễn Thị Thu Hường, chủ tịch Hội LHPN xã Sơn Công, Ứng Hòa
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 119/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo : TRẦN VĂN T , sinh năm 1959, sinh quán và nơi cư trú : Thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo: Không. nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn : 7/10; con ông : Trần Văn Hồng; con bà : Nguyễn Thị T (Đều đã chết); vợ : Lê Thị H, sinh năm 1959; con : có 04 con (Con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1992); tiền án, tiền sự : Không; nhân thân : Ngày 30/5/1994 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng về tội “Tổ chức dùng chất ma tuý”; ngày 29/8/1997, bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 30 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma tuý” Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù của bản án năm 1994 bị cáo phải chấp hành 54 tháng tù giam. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2000; ngày 15/7/2004, bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Ngày 18/10/2004 Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây xét xử phúc thẩm tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”; ngày 20/5/2005, bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của bản án năm 2004 về tội “Đánh bạc” buộc bị cáo phải chấp hành 10 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 15/9/2012; ngày 28/4/2016 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2018; bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ từ ngày 12/9/2020 đến ngày 15/9/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Chị Tô Ngọc T, sinh năm 1974; trú tại : Xóm 1, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình, vắng mặt.
Người làm chứng : Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1967; trú tại : Thôn N, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/9/2020, Trần Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29Y1-024.38 đi đến khu vực chợ B, huyện L, tỉnh Hòa Bình nhờ một người lái xe ôm không quen biết mua hộ 01 gói ma tuý giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Toàn cất số ma túy này vào trong ví của mình rồi điều khiển xe để đến thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội để sử dụng khi đến địa phận thôn Thái Hòa, xã Hòa Xá, huyện Ứng Hoà thì bị Công an xã Hòa Xá, huyện Ứng Hòa phối hợp với tiểu đoàn 03, Đại đội 03 thuộc Trung đoàn Cảnh sát cơ động - Công an Thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ, thấy Toàn có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Toàn tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ, kích thước (1x2)cm, mở ra bên trong có chất bột màu trắng, Toàn khai nhận đó là ma túy Toàn mua để sử dụng cho bản thân. Lực lượng công an niêm phong vào phong bì thư, Toàn chứng kiến và ký tên tại mép niêm phong, rồi đưa T và vật chứng về Công an xã Hòa Xá lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó bàn giao đến Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ kích thước (1x2)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng;
- 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen, số máy 975905, số khung 975888; biển kiểm soát: 29Y1-024.38 đã cũ;
- 01 giấy đăng ký xe mô tô số 002508 mang tên Nguyễn Thế Anh sinh năm 1988 ở Hồng Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.
Ngày 12/9/2020 Cơ quan điều tra tiền hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn Toàn không phát hiện và thu giữ được gì.
Ngày 12/9/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hoà đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 161 đối gói ma tuý thu giữ của Trần Văn Toàn. Tại bản kết luận giám định số 8291, ngày 19/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy trắng có dòng kẻ là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,255 gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 112/CT – VKS ngày 30/11/2020 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo đểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
- Bị cáo thừa nhận hành vi như đã nêu trên;
- Đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/9/2020 đến ngày 15/9/2020; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 03/12/2020 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý). Đối với xe mô tố bị cáo sử dụng ngày 11/11/2020, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà ra quyết định xử lý vật chứng số 54 bằng hình thức bàn giao chiếc xe có số máy 975905, số khung 975888; biển kiểm soát 29Y1-024.38 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 002508 cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà bình để giải quyết theo thẩm quyền. Về án phí : Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người làm chứng và các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Ngày 11/9/2020, Trần Văn T đã mua và tàng trữ trái phép 0,255 gam chất ma túy Heroin nhằm mục đích để sử dụng thì bị công an phát hiện bắt quả tang.
Bằng hành vi mua, cất giữ trái phép chất ma túy nêu trên nhằm mục đích sử dụng của Trần Văn T. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo với hành vi và điều, khoản, tội danh trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Ngoải ra, nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị các tòa án xét xử về tội phạm ma túy và các tội khác nhau, tuy đã được xóa nhưng cũng xem bị cáo không chịu tu rưỡng rèn luyện để cai nghiệm.Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.
Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện chất ma tuý nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người mua hộ T ma tuý, T khai nhận là người đàn ông lái xe ôm ở khu vực Chợ Bến, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình, khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,6 mét, T không biết rõ họ, tên địa chỉ đầy đủ, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được nên không bị xử lý trong vụ án này.
Xử lý vật chứng :
- Đối với chiếc xe mô tô Sirius màu đỏ đen, số máy 975905, số khung 975888 đeo biển kiểm soát 29Y1-024.38. Quá trình điều tra Trần Văn T khai mua xe đã có biển kiểm soát 29Y1-024.38 thì người bán xe đưa cho T đăng ký xe số 002508 mang tên Nguyễn Thế A, sinh năm 1988, ở xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội là đăng ký của xe có biển kiểm soát 29Y1-042.38 Toàn không để ý số biển kiểm soát đeo trên xe với số biển kiểm soát trong đăng ký xe. Kết quả tra cứu, xác minh chủ sở hữu xác định xe mô tô Sirius màu đỏ đen có số máy 975905, số khung 975888 được đăng ký biển kiểm soát 28E1-044.00, chủ sở hữu là của bà Tô Ngọc T, sinh năm 1974, ở xóm 1, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình, khoảng tháng 10/2013 chị T bị mất trộm. Do vậy, Toàn không có lỗi nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Toàn về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điều 323 Bộ luật hình sự.
- Đối với biển kiểm soát 29Y1-024.38 được cấp cho xe Dream màu nâu có số khung 135588, số máy 1435626, chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981, ở Kim Bôi, xã Vạn Kim, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, anh Thuận mua xe đăng ký và sử dụng từ năm 2011 đến nay.
- Đối với đăng ký xe mô tô số 002508 mang tên Nguyễn Thế A, sinh năm 1988, ở xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, đăng ký cấp cho anh Nguyễn Thế A mua, đăng ký sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 29Y1-042.38, năm 2016 anh Thế Anh bán chiếc xe máy trên cho người đi đường không quen biết.
- Trên cơ sở kết quả điều tra xác định: Xe mô tô Sirius màu đỏ đen có số máy 975905, số khung 975888 được đăng ký biển kiểm soát 28E1-044.00, chủ sở hữu là của chị Tô Ngọc T bị mất trộm năm 2013. Biển kiểm soát 29Y1-024.38 gắn trên xe thu giữ của Toàn là biển số không rõ nguồn gốc. Giấy đăng ký xe mô tô số 002508 mang tên Nguyễn Thế A không rõ chủ sở hữu. Tuy nhiên biển kiểm soát và đăng ký xe mô tô trên được phát hiện, thu giữ gắn liền với xe mô tô Sirius màu đỏ đen có số máy 975905, số khung 975888 được đăng ký biển kiểm soát 28E1-044.00 và là vật chứng trong vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Vì vậy ngày 11/11/2020, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà ra quyết định xử lý vật chứng số 54 bằng hình thức bàn giao chiếc xe có số máy 975905, số khung 975888; biển kiểm soát 29Y1-024.38 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 002508 cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà bình để giải quyết theo thẩm quyền.
- Số Hêrôin sau khi giám định niêm phong gửi trả lại đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về án phí, quyền kháng cáo : Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm - Theo Điều 135;136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/9/2020 đến ngày 15/9/2020.
3. Về xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là số Hêrôin sau giám định gửi lại, đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Phạm Đình Đạo và bị cáo Trần Văn T, dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 03/12/2020 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).
4. Về án phí : Buộc bị cáo Trần Văn Tphải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo : Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên đối với bị cáo; kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi thường trú đối với chị T (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình)./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Niêm yết UBND xã Tử Nê, Tân Lạc, Hòa Bình; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |