vanban.org

Bản án 100/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng P L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2020. Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng P L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2020/HS-ST.
Ngày: 16-07-2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Huệ.

Bà Trần Thị Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Quốc Hoàn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Tất- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 07 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2020/HSST ngày 10 tháng 06 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 07 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Lê Hoàng P L, sinh năm 1992 tại Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã Đ 1, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 17/05/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Tp.HCM áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng (chấp hành xong ngày 27/08/2018); bị tạm giữ ngày 24/01/2020 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. “Có mặt”

2. Dƣơng Thị T T, sinh năm 1998 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: ấp 1A, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: ấp Phước Hòa, xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn Hải và bà Nguyễn Thị Loan (chết); bị cáo chưa có chồng con; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 24/01/2020 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 22 giờ 00 phút ngày 24/01/2020, công an xã Lộc An, huyện Long Thành kết hợp dân quân tự vệ tuần tra trên đoạn đường Đinh Bộ Lĩnh thuộc ấp Hàng Gòn, xã Lộc An, huyện Long Thành phát hiện Lê Hoàng P L điều khiển xe mô tô biển số 60C2 – 089.93 chở Dương Thị T T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe, kiểm tra hành chính phát hiện 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp được cất giấu trong túi vải màu đen T đang mang trên người nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành xử lý.

Quá trình điều tra xác định: Lê Hoàng P L và Dương Thị T T có quan hệ tình cảm với nhau, cùng là người nghiện ma túy và thường cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng chung. Sáng ngày 24/01/2020, sau khi cùng nhau sử dụng ma túy, L bàn với T cùng nhau đi mua ma túy để sử dụng, T đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 24/01/2020, L sử dụng điện thoại Nokia màu đen của mình gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên Năm (không rõ nhân thân, lý lịch) hỏi mua 2.800.000 đồng ma túy đá, Năm đồng ý. Năm hẹn L đến khu vực Ngã ba Vũng Tàu, thành phố Biên Hòa để mua, bán ma túy. Khoảng 18 giờ cùng ngày, L và T đến khu vực ngã ba Vũng Tàu, thành phố Biên Hòa thuê nhà nghỉ rồi L nhắn tin cho Năm thông báo địa chỉ, 30 phút sau, Năm tới gặp L nhận số tiền 2.800.000 đồng. Sau đó, Năm gọi vào điện thoại của L, lúc này T nghe máy, Năm báo cho biết là ma túy được cất giấu trong bao lì xì màu đỏ để trong thùng rác cạnh nhà tắm và dặn xóa liên lạc trong điện thoại. Sau khi lấy được ma túy, L cất ma túy vào chiếc túi vải màu đen rồi đưa cho T cất giữ. Đến 22 giờ ngày 24/01/2020, L điều khiển xe mô tô biển số 60C2 - 089.93 chở T đi trên đường Đinh Bộ Lĩnh thuộc ấp Hàng Gòn, xã Lộc An, huyện Long Thành thì bị Công an xã Lộc An, huyện Long Thành kết hợp dân quân tự vệ yêu cầu dừng xe, kiểm tra phát hiện số ma túy trên.

Tại kết luận giám định số 144/KLGĐ-PC09 ngày 30/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 5,8044 gam, loại: Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 bao thư bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 144/KLGĐ - PC09 ngày 30/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của bị cáo L có số thuê bao 0934.676.478, 01 cân tiểu ly màu đen.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của bị can L, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ đen và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có dán hình đôi môi màu hồng mặt sau của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô biển số 60C2 – 089.93, không rõ số khung, số máy của bị cáo L sử dụng vào việc đi mua ma túy, L trình bày mua của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 8.000.000 đồng, qua xác minh xe mô tô có biển số 60C2 – 089.93 do bà Nguyễn Thị Hồng đứng tên, hiện bà Hồng đã đi khỏi địa phương nên chưa xác định được nguồn gốc chiếc xe mô tô trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 221/CT-VKSLT ngày 08 tháng 06 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo Lê Hoàng P L, Dương Thị T T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số: 221/CT-VKSLT ngày 08 tháng 06 năm 2020.

Sau khi phân tích và luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng P L, Dương Thị T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt Lê Hoàng P L từ 05 năm đến 06 năm tù; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt Dương Thị T T từ 03 năm đến 04 năm tù.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 144/KLGĐ - PC09 ngày 30/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai, 01 cân tiểu ly. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen có số thuê bao 0934.676.478 mà bị cáo L dùng vào việc phạm tội.

Đối với 01 xe mô tô biển số 60C2 – 08993, đề nghị tiếp tục tạm giữ, điều tra, xử lý sau.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, các bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận: Lê Hoàng P L, Dương Thị T T là người thường xuyên sử dụng trái phép ma túy. Lúc 22 giờ 00 phút ngày 24/01/2020, khi L, T đang tàng trữ trái phép 01 túi ma túy tổng hợp đi trên đường Đinh Bộ Lĩnh thuộc ấp Hàng Gòn, xã Lộc An, huyện Long Thành để mang về phòng trọ sử dụng thì bị Công an xã Lộc An, huyện Long Thành phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 túi ma túy có khối lượng: 5,8044 gam, loại Methamphetamine.

Sự thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Khối lượng ma túy mà các bị cáo tàng trữ là 5,8044 gam, loại Methamphetamine.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố các bị cáo Lê Hoàng P L, Dương Thị T T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, chẳng những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hình phạt dành cho các bị cáo cần phải nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm thể hiện tính răn đe của pháp luật.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, trong đó, vai trò của các bị cáo như sau:

- Lê Hoàng P L: là người có tiền sự, đã bị áp dụng biệp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục dùng tiền để mua ma túy, trực tiếp liên hệ và giao dịch với người bán ma túy, giao ma túy cho T cất giữ để về sử dụng chung nên hình phạt dành cho bị cáo L phải thật nghiêm khắc và cao hơn bị cáo Dương Thị T T.

- Dương Thị T T: là người đi cùng L để đi mua ma túy, được L cho sử dụng ma túy chung và đồng tình giúp bị cáo L cất giữ ma túy nên hình phạt cũng phải nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và đủ để răn đe, phòng ngừa tội phạm. Ngoài ra, bị cáo T có ông bà là người có công với cách mạng, là thương binh, được tặng thương huân chương kháng chiến nên căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo T.

Xét thấy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo thành một người có ích cho xã hội.

Đối với người phụ nữ tên Năm (không rõ nhân thân, địa chỉ), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 144/PC09-GĐMT ngày 30/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai, 01 cân tiểu ly mà bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen có số thuê bao 0934.676.478 mà bị cáo L dùng vào việc phạm tội.

(Số vật chứng này hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/06/2020)

Đối với 01 xe mô tô biển số 60C2 – 089.93, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng P L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2020.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Thị T T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2020.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa chất Methamphetamine đã được niêm phong số 144/PC09-GĐMT ngày 30/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai, 01 cân tiểu ly mà bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen có số thuê bao 0934.676.478 mà bị cáo L dùng vào việc phạm tội.

(Số vật chứng này hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/06/2020)

Đối với 01 xe mô tô biển số 60C2 – 08993, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý sau.

Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ