vanban.org

Bản án 100/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 18/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm

2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trịnh Lê Ngọc H phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN NAM
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2020/HS-ST
Ngày 18-11-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Hồng Vinh

Ông Nguyễn Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Thế là Thư ký của Tòa án nhân dân

huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận

Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số

91/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử sơ thẩm số 91/2020/QĐXXST-HS ngày 04/11/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Lê Ngọc H, sinh năm: 1994; nơi sinh: Bình Thuận; nơi cư

trú: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình

độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Ngọc Hồ T – sinh năm 1967 và bà Lê Thị Th

– sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày

13/7/2015, bị Công an huyện N, tỉnh Bình Thuận xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo bị bắt

giữ từ ngày 16/8/2020 đến nay. (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1999. (Có mặt)

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Võ Văn H, sinh năm 1989. (Có mặt)

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Trịnh Ngọc Hồ T, sinh năm 1967. (Có mặt)

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: Anh Lê Đắc Tịnh Th, sinh năm 1999. (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 04/3/2020, Trịnh Lê Ngọc H đi bộ từ nhà riêng ở thôn

P, xã H, huyện N đến nhà anh Lê Đắc Tịnh T, sinh năm 1999, trú thôn P, xã H, huyện N chơi, tại đây Hưng gặp anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1999 (trú thôn P, xã H, huyện N) cũng đang chơi ở nhà anh Th. Lúc này, H thấy 01 xe mô tô biển kiểm soát 86B4 – 492.04 hiệu Winner màu sơn trắng - đen của anh T đang dựng ở sân nhà anh Th, nên H nói với anh T “cho anh mượn xe để mua đồ”. Nghe vậy anh T giao xe cho H, H lấy xe rồi điều khiển xe chạy lên chợ Phan Thiết ở thành phố Phan Thiết để mua dép; sau đó, Hưng muốn chơi game bắn cá nhưng không có tiền nên nảy sinh ý định cầm cố xe mô tô mượn của anh T; để cầm cố xe, Hưng gọi điện thoại cho Võ Văn H, sinh năm 1989 (tên thường gọi Quách Tĩnh) trú thôn P, xã H, huyện N nhờ Võ Văn H chỉ chỗ cầm cố xe mô tô trên. Sau đó, Võ Văn H gọi điện thoại hẹn gặp H ở khách sạn Hoàng Long tại ngã 4 đường Thủ Khoa Huân, thành phố Phan Thiết, tại đây Hưng chở Huy đến vòng xoay đường 706B (đường ra phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết) thì dừng lại, lúc này có một người nam giới tên P (không rõ họ, tên địa chỉ) đi đến nhận cầm cố chiếc xe mô tô nêu trên với giá 9.000.000 đồng, H đã nhận đủ tiền từ P. Sau khi cầm cố xe, H và Võ Văn H đón xe taxi đến tiệm game bắn cá (không nhớ tên tiệm) ở đường Hùng Vương, thành phố Phan Thiết chơi, tại đây H cho Võ Văn H 400.000 đồng, còn lại số tiền 8.600.000 đồng H chơi game bắn cá và bị thua hết. Quá trình chơi game thì anh T nhiều lần gọi điện thoại cho H nói mang xe về trả cho anh T, nhưng H chỉ trả lời anh T 01 lần là nói “đang đi về trả lại xe” còn các cuộc gọi khác H không nghe máy. Đến ngày 07/3/2020, anh T và cha mẹ của anh Tánh có đến gặp Hưng để hỏi về xe mô tô hiệu Winner màu sơn trắng - đen của anh T, thì Hưng nói đã cầm cố lấy 9.000.000 đồng chơi game, xe mô tô này đến nay chưa thu hồi được. Sau đó, anh Tánh làm đơn tố cáo hành vi của Trịnh Lê Ngọc H đến Cơ quan công an.

Tại bản kết luận số 42/HĐĐG ngày 23/7/2020 của Hội đồng định giá trong

tố tụng hình sự kết luận: xe mô tô BKS 86B4-492.04 hiệu Honda-Winner có giá trị là 33.600.000 (Ba mươi ba triệu sáu trăm ngàn) đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T và bị cáo Trịnh Lê Ngọc H

đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường với số tiền 25.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Văn T đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trịnh Lê Ngọc H.

Tại Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 02/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân

huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận truy tố Trịnh Lê Ngọc H về tội: “Lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175

của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu

ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng số 91 ngày 02/10/2020. Đề

nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s

khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm

2017 để tuyên bố bị cáo Trịnh Lê Ngọc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản” và xử phạt bị cáo Trịnh Lê Ngọc H mức án từ 12 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo và

không có yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo Trịnh Lê Ngọc H thừa nhận toàn bộ hành vi như đã khai tại cơ quan

điều tra và nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam

đã truy tố; trong phần trình bày lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình

là sai trái và hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm

nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

cho bị cáo H và không yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm; người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có ý kiến hay yêu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc

việc truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm

Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Kiểm sát viên đều được thực hiện

đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình

điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về

hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố

tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người làm chứng anh Lê Đắc Tịnh Th đã được Tòa án triệu tập

nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không

gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội

đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi và tội danh: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo

Trịnh Lê Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo

phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm

chứng, và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Lợi dụng sự tin tưởng của bị hại Nguyễn Văn T, ngày 04/3/2020 bị cáo Trịnh Lê Ngọc H đã mượn xe mô tô biển kiểm soát 86B4 – 492.04 hiệu Winner màu sơn trắng – đen của bị hại Nguyễn Văn T để đi mua đồ, sau đó nảy sinh ý định chơi game bắn cá nhưng không có tiền nên đã cầm cố xe mô tô này cho một người tên P (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 9.000.000 đồng, bị cáo H cho Võ Văn H 400.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo H dùng để chơi game bắn cá và bị thua hết; xe mô tô biển kiểm soát 86B4 – 492.04 hiệu Winner màu sơn trắng – đen của bị hại Nguyễn Văn T có giá trị 33.600.000 đồng, xe mô tô này đến nay chưa thu hồi được để trả lại cho bị hại Nguyễn Văn T. Hành vi của Trịnh Lê Ngọc H đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo Trịnh Lê

Ngọc H là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng lòng tin của người quen biết để mượn tài sản, sau khi mượn được tài sản đã chiếm đoạt tài sản mang đi cầm cố và sử dụng số tiền cầm cố được sử dụng vào mục đích bất hợp pháp, hậu quả là không thể trả lại tài sản cho bị hại. Hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin trong quan hệ dân sự, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo đã thực hiện việc bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T; quá trình

điều tra bị hại Nguyễn Văn T có đơn xin bãi nại cho bị cáo, tại phiên tòa có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về hình phạt: sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị

cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn để nhằm dăn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo để trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm phòng ngừa tội phạm chung tại địa phương.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: bị cáo và bị hại đã thỏa

thuận xong việc bồi thường, bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét; vật chứng của vụ án là xe mô tô biển kiểm soát 86B4 – 492.04 hiệu Winner màu sơn trắng – đen không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Lê Ngọc H phải chịu án phí hình

sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Ông Võ Văn H đi cùng và được bị cáo Trịnh Lê Ngọc H cho 400.000

đồng để chơi game bắn cá nhưng không biết về hành vi phạm tội của bị cáo H nên không xử lý vai trò đồng phạm trong vụ án này là đúng pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tại

phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm

2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Lê Ngọc H phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản.

2. Về hình phạt: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 và

khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm

2017.

Xử phạt: bị cáo Trịnh Lê Ngọc H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính

từ ngày 16/8/2020.

3. Án phí: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-

UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí

Tòa án.

Bị cáo Trịnh Lê Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Hàm Thuận Nam;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Nam;

- Công an huyện Hàm Thuận Nam;

- UBND xã H;

(đã ký, đóng dấu)

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Phƣơng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phƣơng Lê Chánh Ngôn

Nguyễn Thị Phƣơng

Cỡ chữ